www.vhttdlvinhphuc.vn

 
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch *Số 2 đường Hai Bà Trưng *phường Đống Đa *TP Vĩnh Yên *tỉnh Vĩnh Phúc  *ĐT:0211.3862.505 *Fax: 3847.773 *Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn
 
Tạp chí VH,TT&DL
Tìm kiếm
 

LIÊN KẾT WEBSITE
Đối tác
Công ty cổ phần Mạng Trực Tuyến META Công ty TNHH Mặt Trời Vàng Du lịch Đà Nẵng
Số người truy cập
Bạn là người thứ: 530880
Đang truy cập: 10
Tạp chí VH,TT&DL Vĩnh Phúc
TÌM VỀ CHỮ HÁN, CHỮ NÔM (06/08/2009 09:02)


Theo giới khảo cổ học, kiểu chữ Con Nòng Nọc đã có từ thời Phục Hy - thần Nông. Về sau, dưới thời Hoàng đế họ Hiên Viên, có vị quan tên là Thương Hiệt đã phát minh ra lối chữ Khoa Đẩu. Con người từ chỗ mông muội, tiến hoá dần lên. Ngôn ngữ phát triển, đòi hỏi phải có ký tự để ghi chép lại, cổ nhân đã sáng tạo ra Lục Thư tức là 6 nguyên tắc để đặt thành chữ. Một là dựa vào hình thể sự vật mà đặt thành chữ, đơn giản nhưng phản ánh đúng hiện thực cụ thể. Đó là lối Tượng Hình. Hai là dựa vào động tác, hành vi chủ yếu của con người để đặt thành chữ. Đó là lối Chỉ Sự. Ba là gộp vài ba ý lại với nhau mà đặt ra chữ mới. Thí dụ: chữ Cổ là xưa, gồm chữ Thập là Mười, để trên chữ Khẩu là miệng, với nghĩa đã truyền tới 10 miệng nói, tức là xưa, cũ rồi. Đó là phương pháp Hội ý. Bốn là lấy thanh âm của chữ đặt bên phải, ghép với bộ chữ xác định phạm trù hoặc chủng loại sự vật, đặt bên trái, lập thành chữ Đồng âm nhưng khác nghĩa. Đó là lối Hài Thanh. Năm là dựa theo nghĩa đen của một chữ, suy ra nghĩa bóng và hiểu theo nghĩa bóng ấy, chữ vẫn không thay đổi. Đó là cách chuyển chú. Sáu là từ một chữ có sẵn, chuyển sang thanh khác để đọc và thay nghĩa. Thí dụ: chữ “Hành” là chữ có sẵn, đọc thành chữ “Hạnh” là tính nết, “Hàng” là hàng ngũ, cửa hàng. Còn bản thân chữ “Hành” chỉ có nghĩa là đi. Đó là lối Giả Tá.
Nhờ có phép Lục thư kể trên mà chữ viết phát triển, ghi chép được tất cả các sự việc ở trên đời, với mức độ tinh tế. Bộ sách kinh điển như Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, các bộ tiểu thuyết nổi tiếng thế giới như Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng, Liêu Trai, Đông Chu Liệt Quốc đều... dùng phép Lục Thư mà trình bày, cho ta một di sản văn hoá khổng lồ và quý giá.

Chữ “Lục Thư” truyền vào Việt Nam từ khi nước ta nội thuộc phương Bắc. Các Lương lại như Tích Quang, Thái thú quận Giao Chỉ, đời Hán Bình Đế Lưu Diễn (thế kỷ 1 - 6 sau CN); Nhâm Diên, Thái thú quận Cửu Chân từ năm 29 đến 33, đời vua Quang Vũ nhà Đông Hán; Sĩ Nhiếp, Thái thú quận Giao Chỉ tự năm 187 đến năm 226, đời vua Hiến Đế Lưu Hiệp; Đỗ Tuệ Độ, thứ sử Giao Châu đời Đông Tấn, An Đế Tư Mã Đức Tông (397-419)... là những người có công đem chữ Nho sang truyền bá ở nước ta. Nhờ đó dân trí được mở mang. Suốt 9 thế kỷ từ khi nước ta tự chủ (939) đến khi quân Pháp xâm lược Nam Bộ (1862 và 1867) các triều đại Việt Nam đều lấy chữ Nho làm quốc gia văn tự: các luật lệ, chỉ dụ, công văn, án từ, khế ước, chúc thư, khoán lệ, sổ sách, việc học, việc thi, việc bổ nhiệm... đều dùng chữ Nho cả.

Năm 1867, chính phủ thuộc địa bãi bỏ việc học và thi chữ Nho ở Nam Bộ, tổ chức nền học Pháp Việt. ở Bắc Bộ và Trung Bộ vẫn để nguyên như cũ, cho đến năm 1918 mới chấm dứt kỳ thi Nho học cuối cùng ở nước ta. Trong giai đoạn này, chính phủ thuộc địa thương lượng với Nam Triều, lập ra Hội Đồng Cải Lương Học Vụ. Ngày 31/5/1906, nước ta có nền học vấn Pháp Việt ở cả 3 xứ: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Nền học vấn này được chia làm 3 bậc:

- ấu học, dạy ở các trường Tổng sư, tốt nghiệp bằng tuyển sinh.
- Tiểu học, dạy ở phủ huyện và tỉnh lẻ, tốt nghiệp bằng khoá sinh.
- Trung học, dạy chủ yếu ở các trường tỉnh, tốt nghiệp bằng Hương thí. Tương đương với bằng Cartificat, Diplome, BaccalauRéat sau này, hoặc gọi theo tiếng Việt là bằng cơ thuỷ, bằng Thành chung và bằng Tú tài.

Trở lại với chữ Nho với nghĩa là chữ của Khổng Tử, bậc đại tri thức có ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hoá nhân loại và văn minh phương Đông, loại trừ nền thống trị Bắc thuộc.
ở nước ta, chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (TK XVIII) đã viết chữ Nho trên đĩa sứ “Nội Phủ Thị Bắc”; sách bằng đất sét nung ở Thanh Hoá có 7 trang; Thạch thư ở Vĩnh Lăng; 1.162 bia đá ở Hà Nội; 82 bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Sách bằng vàng của chúa Trịnh Tùng (1594), của chúa Trịnh Tráng (1623-1629); sách đồng ghi chép việc vua Lê Thánh Tông bình Chiêm (1472); Mộc thư (sách gỗ) do Lương Nhữ Hộc (1592-1786) chế tác. Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là bộ Mộc thư quy mô nhất ở nước ta, được khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), do chúa Định Quốc Vượng Trịnh Căn chịu trách nhiệm xuất bản.

ở Vĩnh Phúc, tấm bia cổ nhất, có tới 1.760 chữ nho, là tấm bia “Báo ân Thiền tự bi ký” ở chùa Báo ân, xã Tháp Miếu, tổng Bạch Trữ, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên. Nay là phường Tháp Miếu, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, do Trấn Ti Viên Ngoại Nguỵ Tư Hiền soạn tháng 12 năm Trị Bình Long ứng thứ 5-1209, đời vua Lý Cao Tông Long Cán. 10 tấm bia còn tốt nguyên ở đền Phú Đa, Vĩnh Tường là “Bản xã khất bảo phúc thần bi, Phúc thần điều lệ bi, Phúc thần sinh từ bi ký, Hậu thần điều lệ bi, Hậu thần bảo từ quan bi ký, Từ đường bi ký phụ gia huấn, Hương trại điều lệ bi, từ đường điều lệ bi, Chí mỹ bi ký, Tân san gia huấn bi”, hầu hết được chế tác vào năm 1767, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28, đời vua Lê Hiển Tông Duy Diêu. Nhiều tấm bia có giá trị sử liệu còn bị chôn vùi ở xã Đạo Đức, Hương Sơn (Bình Xuyên) Kẻ Già, Yên Bài (Mê Linh), Tam Hồng (Yên Lạc), cần được tạo điều kiện khai quật.

Trải qua nhiều diễn biến thăng trầm của lịch sử, ngày nay ta gọi chữ Nho là chữ Hán, vì thứ chữ này đến nước ta từ đời Đông Hán, thế kỷ thứ I. Hơn nữa gọi là chữ Hán, vì người Việt Nam đọc theo âm Việt. Nó khác với chữ Tầu, chữ Trung Quốc, chữ Nho, chữ Hoa... đọc theo âm Bắc Kinh.
Chữ Nôm, còn gọi là chữ Nam, chữ Ta, dùng chữ Hán ghi âm tiếng Việt, do người Việt chế tác và sử dụng riêng trong cộng đồng người Việt, đọc lên gần giống chữ Hán, lơ lớ chữ Hán, chứ không đọc giống chữ Tầu, chữ Trung, chữ Hoa, chữ Nho:

Cấu trúc ngữ pháp cũng thay đổi theo thói quen ngôn ngữ của người Việt.
Xưa, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi có thể dùng chữ Nho đàm thoại trực tiếp với người Trung Quốc được. Nay vẫn thứ chữ Nho ấy, ta gọi là chữ Hán, không dùng để giao dịch được, vì nghe người Trung Quốc nói, người Việt không hiểu và ngược lại, người Việt nói, người Trung Quốc không hiểu. Nếu xem chữ viết, hai bên đều hiểu giống nhau.

Còn chữ Nôm là chữ riêng của ta, rất thịnh hành giai đoạn cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. Các truyện Nhị Độ Mai, Tống Chân Cúc Hoa, phạm Tải Ngọc Hoa, Lý Công, Trịnh Thử, Cung oán ngâm khúc, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm... đều viết bằng chữ Nôm cả. Các danh nhân như Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến... đều rất giỏi chữ Nôm. Thứ chữ này phát âm ra là người Việt Nam đều hiểu cả, có khả năng biểu đạt hết sức tinh tế.

Chém cha cái số hoa đào
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!
Nghĩ đời mà ngán cho đời
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!
Tiếc thay nước đã đánh phèn,
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần,
Đã xoay đến thế còn vần chửa tha”.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Người Việt dùng chữ Nho để chế tác chữ Nôm (Nam, Ta) theo các quy tắc sau đây:
1- Gốc là chữ Nho, đọc theo âm Việt (nay gọi là chữ Hán - Việt).
+ Giống chữ Hán hoàn toàn như: nhân dân, tỉnh, thành phố.
+ Vẫn là chữ Hán, nhưng đọc chệch đi: Cô (Hán) đọc thành Côi (Nôm) Cục (Hán) đọc thành Cuộc (Nôm), trà (H) -> chè (N), Xa -> Xe (N).
2. Gốc chữ Hán, bị Việt hoá lâu ngày, nhưng vẫn đúng nghĩa: Gia (H) thành Nhà (N), Kỷ (H) -> Ghế (N), Tửu (H) -> Rượu (N), ẩm (H) -> nhắm (N), Khốc (H) -> khóc (N)…
3. Chữ Hán đồng âm với tiếng Việt, mặc dầu khác nghĩa. Thí dụ Một (H) là chết, là mất, dùng để đọc thành số 1 của chữ Nôm.Ghép một ch
4. ữ Hán để chỉ nghĩa, với một chữ Hán để lấy âm.
Thí dụ: Niên (H) là năm + nam (H), đọc thành Năm (tháng): Nôm
Ngũ (H) là số 5 + Nam (H), để đọc thành 5: Nôm
Chí (H) là đến + điển (H), để đọc thành đến: Nôm
Ngoài 4 quy tắc trên, chữ Nôm lại có biệt lệ:

- Ghép chữ Nôm với Nôm, toàn là chữ Hán chỉ ý. Thí dụ: Thiên là Trời, ghép với Thượng là Trên, đọc thành Trời, thêm Khẩu là miệng ở bên trái, đọc thành Lời (nói).
- Hoặc có 1 chữ Bản, lúc lại đọc là vốn như:
“Vốn dòng Nho gia”, chứ không đọc “Bản dòng Nho gia được”. Chữ Nôm không được quy định thống nhất, mỗi nhà Nho tuỳ theo vốn chữ Nho của mình mà tự đặt ra. Nên nhiều trường hợp viết một tiếng mà nhiều kiểu chữ khác nhau.

Chính vì chữ Nôm rất phức tạp về viết và đọc, phải có nho học uyên thâm mới sử dụng được. Nó khó hơn chữ Hán đến 2 hoặc 3 lần, lại bị chính quyền phong kiến rẻ rúng, không được tập trung nghiên cứu sửa đổi, làm thành Quốc tự như chữ Triều Tiên và chữ Nhật Bản. Chữ Nôm vì thế thiếu mức độ chính xác, hơn nữa phát âm tiếng Việt thời cổ vướng nhiều thổ ngữ, nên khó định hình.

Chữ Hán có 4 tự dạng: Chân, Thảo, Triện, Lệ.
Chân: là lối chữ viết rõ ràng, đầy đủ, vuông vắn, mẫu mực. Nét đậm, nét nhạt tươi tắn, đúng quy phạm. Cách viết này còn gọi là Khải Thư, một lối viết chân phương. So sánh với chữ La Tinh, cách viết của loại chữ này gọi là Ecriture, dùng để viết các giấy tờ cần lưu giữ, bảo quản, trình bày lâu dài như: viết bằng khen, giấy khen, văn bằng, chứng chỉ, nhãn mác, khẩu hiệu...
Chữ Chân hay Khải Thư được dùng trong bằng sắc vua phong, khắc bia ký, viết hoành phi câu đối, đã dễ đọc, lại rất đẹp.

Thảo: là lối chữ viết ngoáy, nhanh và mạnh như “đánh giặc”. Viết liền một hàng không nhấc bút. Trông thì đẹp nhưng đọc rất khó, vì các chữ đều bị bớt nét và cách điệu. Có khi để liền nét, người ta lại viết trái cựa, không tuân thủ thứ tự nét trước, nét sau. Tiếng Pháp gọi là Ecriture Courante, thứ “chữ Bác sĩ”, viết cốt lấy nhanh, hoặc khi nhà thơ, nhà văn viết bản thảo cần ghi kịp ý tưởng viết chữ Thảo mà không luyện tập thư pháp thì thành chữ “gà bới”. Viết khác kiểu, loằng ngoằng lạ mắt thì gọi là chữ Fantisie, chạy theo thị hiếu. Gần đây, người ta dùng chữ La Tinh để viết thư pháp, vô tình phá hoại việc rèn luyện “vở sạch, chữ đẹp” của học sinh trong các nhà trường. Bản thân chữ La Tinh là loại chữ ghép âm, không mang tính tượng hình, hầu hết các nước văn minh đều sử dụng, bây giờ dùng viết thư pháp tiếng Việt, biểu đạt ý nghĩa và hình ảnh thiếu chiều sâu, thiếu gợi cảm, dù người Việt đã có gắng suy nghĩ tìm tòi. Chẳng hạn đưa ra một loạt từ có nguyên âm và cấu trúc tương tự nhau như: Lơ, Thơ, Tơ, Mơ, Lờ, Mờ... bằng chữ La Tinh người thể hiện sẽ bị lúng túng. Còn vẫn vần ấy, viết bằng chữ tượng hình, người viết gặp thuận lợi hơn nhiều, vì mỗi chữ viết một cách, không chữ nào giống chữ nào, không quanh quẩn trong 26 tự mẫu La Tinh như tiếng Việt. Cái gọi là thư pháp tiếng Việt này dùng để trang trí đầu bài báo, nhan đề quyển sách thì đáng gọi là đẹp, còn dùng để treo tranh chữ thì rất dở.

Khi viết chữ Hán, Thảo thư cũng chỉ dùng để ghi những danh ngôn, những bài thơ nổi tiếng của các thi hào. Nhờ thuộc sẵn, người đọc mới đọc được. Còn viết những câu lạ, thơ lạ, chính người viết, lát sau đọc lại cũng ngắc ngứ. Cho nên Thảo thư dùng để trình bày cái hoa tay của người chép và cái tài hoa của người thi nhân, người viết không có lời riêng của mình.
Triện: là lối chữ viết theo khuôn vuông, có thể cả khuôn tròn, bồ dục, bầu nậm. Lối chữ này chủ yếu dùng để khắc ấn tín, triện dấu, ngọc bội Đôi khi khắc trên chuông khánh. Lối chữ này xuất hiện từ đời Tấn, có 2 lối Đại Triện và Tiểu Triện.

Vì chữ viết trong khuôn, nên có nét phải kéo dài ra, có nét phải thu ngắn lại, cách điệu cho cân đối, hai bên tương ứng với nhau; sao cho người đọc vẫn nhận dạng được mặt chữ. Dấu đóng trên sắc phong của vua Duy Tân cho Hướng mễ tướng quân xã Xuân Lãng (Thanh Lãng Bình Xuyên) năm 1909 có 4 chữ, mỗi chữ nằm trong 1/4 khuôn vuông cỡ 13cm x 13cm, chiếm 25cm2, không đề tên vua hay niên đại, nhằm sử dụng lâu dài suốt cả triều Nguyễn, có tính chất cha truyền con nối. Đó là 4 chữ “Sắc Mệnh Ngọc Bảo”. Sau này, vua Khải Định (1916 - 1924), vua Bảo Đại (1925 - 1944) vẫn dùng con dấu đó khi ban tặng, ân phong phẩm tước hầu cho thần dân.

Chữ La Tinh dùng để khắc dấu, ít khi biến dạng. Dù bị xếp trong hình tròn hay hình vuông, từng chữ cái vẫn dễ đọc, vẫn dễ ghép vần. Nhưng chữ La Tinh làm kiểu chữ tròn như chữ Triện, khắc thành câu đối ở cổng làng, là một biểu hiện phi văn hóa, không đẹp.

Lệ: là một lối chữ thời Hán, dùng nét cong và nét tròn. Các nét đều theo hướng chảy xuống như dòng lệ. Lỗi chữ này dùng vẽ bùa, hoặc trang trí trên chuông khánh, bia đá trong chùa. Thực ra, lối chữ này có từ đời Tần, do Trịnh Mạc phát kiến, từ nhà Hán về sau, các sách vở cùng sớ biểu, công văn, tư văn đều dùng lối chữ này. Có thuyết cho rằng, lối chữ này dùng để sai bảo, nên gọi là chữ Lệ. Nói vậy, ở Việt Nam ít dùng lối chữ này. Bởi chữ Hán đã khó đọc, lại viết cách điệu theo nét tròn, nên càng khó đọc hơn. Các chữ phải tuân thủ lệ bộ nhất định, không được tuỳ tiện, đóng trong khuôn tròn ở phía trên và đòi hỏi cân đối hai bên như chữ triện. Các triều đại Việt Nam chữ dùng trong chế, chiếu, sắc, biểu đều là lối chữ Khải, không ứng dụng chữ Lệ. So sánh với tự mẫu La Tinh, thì lối chữ Lệ có thể coi như chữ Gothique của người Goths dùng trong thế kỷ XII. Về tự dạng vẫn là chữ cái A, B, C nhưng thêm nét kép cho nét chính và 2 nét thang để gắn nét kép và nét chính với nhau, thành hoa văn đẹp mắt. Đầu thế kỷ XX, người Việt Nam dùng thứ chữ này để viết tên sách hoặc đầu đề bài văn.

Hiểu một cách đơn giản thì chữ Chân hoặc Khải là chữ viết nắn nót; Thảo là chữ viết ngoáy, biến dạng; Triện là lối chữ khắc dấu; Lệ là lối viết bẻ cong các nét. So sánh với tự mẫu La Tinh, thì Khải là lối chữ viết tập; Thảo là lối chữ viết nhanh, viết tắt. Triện là lối chữ in, các nét thẳng bắt góc vào nhau. Lệ là lối chữ Hoa, nhiều nét uốn lượn.

Viết thư pháp, phải học lối chữ Khải, có chiều sâu học vấn thì chữ mới sắc nét, có linh hồn. Còn không có vốn chữ Nho mà cứ viết chữ Nho thì trông chữ vẫn “dại”, giống như theo ảnh mẫu để vẽ truyền thần, tuy nhận ra mặt người, nhưng chân dung vẫn khờ khạo, thiếu sinh động.


                                                                                                                     Nguyễn Quý Đôn

Tháp Bình Sơn
Link bai viet
Tây Thiên Đền Hai Bà Trưng
Tìm hiểu văn hoá
Công nghiệp Doanh nghiệp trẻ
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Trang thông tin điện tử Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Cơ quan chủ quản: Sở văn hóa,Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Địa chỉ: Số 2 đường Hai Bà Trưng - phường Đống Đa - TP Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
ĐT:0211.3862.505 * Fax:0211.3847.773 * Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn * Tổng biên tập: Trần Văn Quang
Giấy phép số: 13/GP-TTĐT ngày: 31/01/2013 của Cục Quản lý Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử