www.vhttdlvinhphuc.vn

 
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch *Số 2 đường Hai Bà Trưng *phường Đống Đa *TP Vĩnh Yên *tỉnh Vĩnh Phúc  *ĐT:0211.3862.505 *Fax: 3847.773 *Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn
 
Giới thiệu
Văn bản - Thủ tục HC
Vùng đất - Con người
Du lich
Thể thao
Văn hóa, Thể thao cơ sở
Tạp chí VH Vĩnh Phúc
Ý kiến đóng góp
Sách hay Vĩnh Phúc
Tam Đảo - Di sản văn hoá và tiềm năng du lịch
Danh mục tin
Tìm kiếm
 

Liên kết Website
Đối tác
Công ty cổ phần Mạng Trực Tuyến META Công ty TNHH Mặt Trời Vàng
Số người truy cập
Bạn là người thứ: 530011
Đang truy cập: 81
Tục ngữ ca dao (06/05/2008 15:07)

 

 Tục ngữ ca dao

Trong kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam, tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc cũng như tục ngữ, ca dao các địa phương khác đóng góp một phần quan trọng. Trong tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc, có những câu mà nghệ thuật diễn tả, nội dung phản ánh có thể sánh kịp và thực tế hoà đồng vào dòng tục ngữ, ca dao chung cả nước, có rất nhiều câu mang dấu ấn địa phương rõ nét, đây là vốn quý của địa phương.


Tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc xuất xứ từ địa bàn Vĩnh Phúc phản ánh những đặc điểm về thiên nhiên, lịch sử, về kinh tế, xã hội của đất Vĩnh Phúc, về lao động sản xuất, sinh hoạt thường ngày, tư tưởng tình cảm của người Vĩnh Phúc. Có thể nói, đây là một nguồn sử liệu dân gian, một loại hình tư liệu địa chí giúp người đọc vừa được thưởng thức những nét hay nét đẹp của thơ ca dân gian Vĩnh Phúc, vừa được hiểu sâu sắc thêm tiềm năng vùng đất Vĩnh Phúc và đặc trưng tính cách con người Vĩnh Phúc.
Theo tinh thần đó, phần tục ngữ, ca dao sẽ được giới thiệu trong “Khung phân loại” dưới đây:

Thiên nhiên và con người Vĩnh Phúc
Thiên nhiên - Con người
- Sinh hoạt, tính cách
- Nhân vật có tiếng trong vùng
Kinh tế - Nông nghiệp
- Kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi
- Thời tiết
- Thời vụ
- Kỹ thuật canh tác
- Kinh nghiệm chăn nuôi
- Sản vật đặc biệt nông nghiệp
Làng nghề và nghề thủ công
Chợ búa (thương nghiệp)
Văn hoá cổ truyền
(Đình chùa, lễ hội, phong tục tập quán…)
Quan hệ xã hội
Tình yêu nam nữ
Hôn nhân gia đình
Tinh thần chống đối giai cấp
Ca dao kháng chiến

Thiên nhiên và con người Vĩnh Phúc

Thiên nhiên
Vĩnh Phúc là một tỉnh đồng bằng có trung du và miền núi hình thành 3 vùng sinh thái rõ rệt với 3 loại địa hình chính: địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình đồng bằng.
Cảnh quan thiên nhiên này đã được nhắc đến trong một số câu như:

Nhất cao là núi Ba Vì
Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn

Núi Ba Vì là núi Tản Viên ở huyện Ba Vì (tỉnh Hà Tây). Tam Đảo là dãy núi lớn chạy dài hơn 50 km ở phía Bắc tỉnh Vĩnh Phúc, có nhiều ngọn núi cao, ngọn cao nhất là núi Giữa (1.591 m); về gần cuối dãy có 3 ngọn đứng sát nhau là Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị. Độc Tôn còn có tên là Yểm Nhĩ (núi Kẻ Tri), núi Mỏ Trực là ngọn cao cuối cùng đứng riêng một mình ở phía đông núi Thiên Thị thuộc sơn phận thôn Thanh Lanh, xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên.

Huyện Tam Dương có ba con dê
Đứng núi đá trông về Lập Thạch

“Ba con dê” ám chỉ ba ngọn Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị thuộc sơn phận huyện Tam Dương. Huyện Lập Thạch có ngọn núi Ngọc ở thôn Yên Thạch, xã cổ Lập Thạch, trên có một khối đá lớn dựng đứng. Hai câu trên phản ánh địa hình miền núi.

Sông Lô một dải trong ngần
Thảnh thơi ta rũ bụi trần cũng nên

Sông Lô chảy bên trái huyện Lập Thạch, là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ.

Nhất Tam Đái, nhì Khoái Châu 
Nam Chân, bắc Dũng, đông Kỳ, tây Lạc

Các huyện thuộc phủ Tam Đái thời Lê, nhất là vùng Vĩnh Tường , Yên Lạc là đồng bằng trù phú như các huyện ở Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương…
Yên Lạc tứ “Cẩm” ngũ “Yên”
Huyện Yên Lạc xưa có 4 làng “Cẩm” là Cẩm Khê (sau sáp nhập vào làng Cẩm Viện), Cẩm La (nay thuộc xã Hồng Châu), Cẩm Viên và Cẩm Trạch (nay thuộc xã Đại Tự). Năm làng “Yên” là Yên Lạc (nay thuộc xã Đồng Văn), Yên Quán (xã Bình Định), Yên Thư (xã Yên Phương), Yên Tâm, Yên Nghiệp (xã Yên Đồng).

Nước Thanh Lanh, ma kẽm Dõm
Nước Thanh Lanh, ma Ngọc Bội

Thanh Lanh, Ngọc Bội ( xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên) trước kia rừng núi âm u, không người ở, khí hậu ẩm thấp, nổi tiếng là “ma thiêng nước độc”. Kẽm Dõm là một đèo trên núi Sóc Sơn, giữa hai huyện Kim Anh và Đa Phúc cũ.

Lênh đênh quán Sót đường Ngang
Trở về gò Điệu lại sang gò Đường

Tên một số xứ đồng thuộc xã Đạo Đức (Bình Xuyên).
Mang Cả trông sang
Mang Con thài mại
Đứng lại mà trông
Chín đời quận công
Mười đời tiến sĩ

Gần khu Cầu Mùi ở thôn Vị Thanh (nay thuộc xã Thanh Trì, thị xã Vĩnh Yên) có xứ đồng Mang Cả và Mang Con, xưa kia được coi là đất quý, để mả ở đấy sẽ có người thành đạt cao sang.

Chín cối đêm
Chín cối xay
May thì gặp
Bến Cả, Đỗ Mang
Có con trâu vàng
Làm vua đủ đại
Ngang bằng hạt thóc
Dọc bằng trôn kim
Ai khéo chịu tìm
Phúc dày mới gặp

Bến Cả, Đỗ Mang, khu Cửa Đồng thuộc thôn Vị Thanh cũng có nhiều thế đất đẹp.
Hỡi cô mà thắt bao xanh
Có về An Cát với anh thì về
 
An Cát có cây bồ đề
Có vực tắm mát, có nghề ăn chơi
An Cát ở xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường có Vực Xanh là một cái đầm rộng và rất sâu, một cảnh đẹp của cả xã.

Con người
- Sinh hoạt, lối sống, tính cách
Trai Tam Đái, gái Từ Liêm
Tam Đái thời Lê - Nguyễn là vùng đồng bằng tỉnh Vĩnh Phúc bây giờ. Từ Liêm nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Trai gái các nơi này cần cù, tháo vát, đảm đang.
Ngọt nhất thì mía Lang Điền
Trai tơ Vân ổ, gái hiền Đồng Tâm
 
Ngọt nhất thì mía Lang Điền
Trai tơ Bằng Đắng, gái hiền Đình Hương

 
Ngọt nhất thì mía Đông Viên
Trai tơ Phù Lập, gái hiền Đồng Tâm
Các thôn Lang Điền, Đông Viên (xã Bình Dương), Vân ổ (xã Vân Xuân), Bằng Đắng, Đình Hương (xã Cao Đại), Phù Lập (xã Tam Phúc) đều ở huyện Vĩnh Tường, Đồng Tâm (xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc). Con người ở đây đều là trai tài, gái đảm.

Ngọt ngào Cam Giá
Đanh đá Kẻ Đê
Lề mề Thủ Độ
Trai tơ Tuân Lộ, gái tơ Thanh Bào
 
Ngũ Kiên lắm đất trồng khoai
Có lắm gái đẹp cho giai phải lòng

Cam Giá, Kẻ Đê, Thủ Độ (xã An Tường), Tuân Lộ (xã Tuân Chính), Thanh Bào (xã Thượng Trưng), xã Ngũ Kiên đều thuộc Vĩnh Tường.

Con gái Kẻ Điền
Như tiên trời giáng
Con trai kẻ Quảng
Như hoẵng lạc rừng

Kẻ Điền (xã Vũ Di), Kẻ Quảng (xã Tuân Chính) ở Vĩnh Tường. Người ta khen hết lời thì chê bai cũng khá cay nghiệt:

Cơm vậy Hoa Phú
Bóp vú Phong Đăng
Nhung nhăng xóm Mới
Tơi tới Hoa Đà
La cà làng Trung

Đây là cá tính của người một số làng, xóm xưa (nay thuộc xã Bình Dương) qua con mắt của những làng khác: Hoa Phú ăn uống qua loa xuề xoà, không cần thức ăn; con trai Phong Đăng hay ghẹo gái; người xóm Mới tếu táo thiếu nghiêm túc; người Hoa Đà hào nhoáng ngoài vỏ; người làng Trung hay ăn chạc.

Xóm Giếng đi lặn ba ba
Xóm Giữa đánh trói người ta lấy tiền
Xóm Trên đánh mõ câu liêm
Xóm Ngoài tát vét lấy tiền ăn chơi

Các xóm nói trên thuộc thôn Hoàng Xá Thượng, xã Kim Xá: xóm Giữa xưa có người đi ăn cướp; trái lại xóm Trên lại sắm mõ, câu liêm sẵn sàng chống cướp. Xóm Giếng và xóm Ngoài lặn bắt ba ba và tát vét nhưng sinh hoạt lại phung phí

ăn như thợ Thùng
Được đỏ nào đánh đỏ ấy

Người làng Thùng Mạch (nay thuộc xã Lý Nhân) làm nghề rèn nặng nhọc nên ăn khoẻ, lại được cái tốt tiền nên kiếm đồng nào sào luôn đồng ấy.

Tò vò chán tổ là dân Môn Trì
Uống rượu tù tì là dân Cam Giá
Hay đi kéo cá là dân Kim Đê
Đi đi về về là dân An Lão
Hay đi vay gạo là dân Hệ thôn
Hay đi kéo tôm là dân Hoàng Xá
Môn Trì ăn chuột cả chân
Giời đánh giời đốt cả dân Môn Trì
Phú Đa ăn cua cả càng
Giời đánh giời đốt cả làng Phú Đa
Vĩnh Sơn ăn rắn cả da
ăn lươn cả khúc ăn gà cả lông
Phong Doanh ăn gạo không sàng
Giời đánh giời đốt cả làng Phong Doanh
Hậu Lộc ăn ốc cả vỏ,
ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột.

Chắc hẳn trên đây là những lời nói khuếch đại của lớp người giàu chế giễu sinh hoạt tằn tiện của lớp người nghèo trước kia. Cũng như những phong tục rất thoáng lại không được tư tưởng phong kiến bảo thủ chấp nhận:

Chém cha cái đất kẻ Đê
Chưa đi làm rể đã về làm dâu

Xưa kia, con gái Kim Đê (xã An Tường) bạo dạn có tiếng, bắt nạt cả con trai. Lệ cưới hỏi ở Kim Đê rất nhẹ nhàng, nhà trai có cơi trầu đến dạm là từ đấy nhà trai có công việc gì, dù chưa cưới, cô dâu cũng lo liệu giúp, xong việc lại về nhà mình.

ỳ ộ như thôn Lộ mổ bò
Láo nháo như thôn Táo mổ bò

Người Tuân Lộ (xã Tuân Chính) ăn to nói lớn, tranh nhau nói không ai nghe ai.

Chớ cho Dùng coi
Chớ cho Ngòi thấy

Người kẻ Dùng (Hoà Loan, xã Lũng Hoà) thông minh khéo tay, linh hoạt, luôn đổi nghề, dễ bắt chước nơi khác. Người Kẻ Ngòi (Lũng Ngoại, cùng xã) thấy có việc gì làm ăn được tức khắc cả làng hùa nhau làm theo. Nếu để họ thấy mình sẽ mất nghề.

Vừa mưa vừa nắng
Nhằng nhặng đánh nhau
Làng Khâu đi đỡ
Làng Vở đi xem
Làng Chiền cất mả
Làng ta uống rượu

Đây là ngạn ngữ lưu truyền ở xã Tiên Lữ (huyện Lập Thạch). Người Tiên Lữ xưa an phận thủ thường, không ham chức, mặc thế sự, chỉ lấy việc uống rượu làm vui; vì thế khi thiên hạ đánh nhau họ chỉ ngồi nhìn, không can thiệp. Làng Khâu (xã Tử Du) sốt sắng, có trách nhiệm, đi hoà giải. Làng Vở (xã Tử Du), làng Chiền (xã Xuân Hoà) lơ là, bàng quan vô sự.

Lý sự Văn Nhưng
Bánh chưng kẻ Bạch
Hạch sách Thiều Xuân
Bất nhân Yên Xá

Người Văn Nhưng (nay ở xã Tân Lập), người Thiều Xuân (xã Đồng Thịnh) giỏi lý sự, hay hạch sách người khác.

Làm thân con gái Sơn Đông

Cơm chồng nửa bữa, ngủ chồng nửa đêm

Xã Sơn Đông (Lập Thạch) có chợ Gốm trên bến dưới thuyền buôn bán sầm uất, có nghề ép dầu dọc, hàng xay xáo nên phụ nữ Sơn Đông vất vả tất bật đêm ngày.

Càu cạu như kẻ Rau tát chuôm

Kẻ Rau (xã Liên Châu, huyện Yên Lạc) có nhiều ao chuôm, khi tát cá hay càu cạu (khó tính) vì lắm người đến hôi cá.

Hương Canh rán sành ra mỡ

ám chỉ người Hương Canh (huyện Bình Xuyên) tằn tiện quá mức.

Vật ẩm Thanh Lanh thuỷ
Vật đả Bá Hạ đề
Vật thú ái Liên thê
Vật giao Đức Cung hữu

Thanh Lanh ở xã Trung Mỹ, Bá Hạ ở xã Bá Hiến, ái Liên ở xã Sơn Lôi đều ở huyện Bình Xuyên. Đức Cung ở xã Cao Minh (xưa thuộc huyện Kim Anh, nay thuộc huyện Mê Linh). Ngày trước, người ta bảo nhau: không uống nước suối Thanh Lanh vì nước độc dễ sinh sốt rét; đừng vì chuyện trai gái mà đánh nhau với người Bá Hạ, con trai Bá Hạ thấy ai chòng ghẹo con gái làng mình là bênh ngay, đánh ngay; con gái làng ái Liên chăm chỉ, nết na, nặng tình cảm quê hương nên khi đi lấy chồng làng khác thì chỉ ít lâu sau thường bỏ nhà chồng về nhà mình cho khỏi xa xóm làng, cha mẹ, chị em, bè bạn; người ta ngại lấy vợ ái Liên là thế, chứ không phải con gái ái Liên lẳng lơ. Không thích chơi với người Đức Cung vì họ lạnh nhạt với bè bạn, chỉ được cái mồm đãi bôi.

Gái khôn tránh khỏi làng Hoa
Trai khôn tránh khỏi Mùi, Ngà mới khôn

Trước kia, con gái đi qua làng Hoa (thuộc xã Khai Quang bây giờ) hay bị trai làng trêu ghẹo. Trai làng Mùi, làng Ngà (xã Thanh Trù, Vĩnh Yên bây giờ) rất ngịch ngợm. Thấy vợ chồng nhà nào đi chợ qua cầu Mùi mà người vợ gánh, người chồng đi không là đánh và bảo: “Khoẻ thế kia mà để cho vợ yếu đuối (hoặc vợ có mang) phải gánh nặng”. Khi đi chợ về, anh chồng gánh cho vợ lại vẫn bị đánh; họ bảo: “Bây giờ đi về có quà bánh thì tranh gánh để ăn...” Cứ những lý do đại để như thế để trêu ghẹo khách qua đường.
Người Vĩnh Phúc xưa đại bộ phận là nông dân lao động, thật thà chất phác nên có thành kiến nặng với các nhà buôn ở kẻ chợ, họ thường có những câu châm biếm, như:

Chơi với kẻ Gốm không ốm cũng đau
Chơi với kẻ Rau không đau cũng ốm
Chơi với kẻ Giang, đứt quang gẫy đòn
Chơi với kẻ Mỏ cặc lõ chẳng còn
Chơi với kẻ Dưng không sưng thì ốm
Chơi với kẻ Me, gốc tre không còn...

Nhân vật có tiếng trong vùng

Bẩy làng kẻ Đám, tám làng kẻ He
Không đánh nổi giặc què ở núi Thanh Tước

Thanh Lanh ở xã Trung Mỹ (Bình Xuyên). Kẻ Đám là làng Đạm Nội xã Tiền Châu; kẻ He là làng Xuân Phương, xã Phúc Thắng; núi Thanh Tước ở xã Thanh Lâm; đều ở huyện Mê Linh. Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương chống vua Lê chúa Trịnh từ năm 1740 đến năm 1751. Thời kỳ hùng mạnh nhất đã đóng Đại đồn ở vùng Thanh Lanh - Ngọc Bội, ngang nhiên như một triều đình. ở đây có thành Quận Hẻo, có khe Đúc Tiền, núi Quần Ngựa, vực Tắm Voi, đấu Đong Quân... Tiền đồn của quân Quận Hẻo đặt ở núi Thanh Tước; có lần quân của triều đình thúc ép dân binh các làng Đám, làng He tiến đánh mà không nổi.

Đầu Càn San, đuôi Man Rện

Càn San thuộc xã Đạo Đức (Bình Xuyên). Man Rện là một xứ đồng ở đầu cầu Mùi Vị Thanh, trước thuộc huyện Bình Xuyên nay thuộc thành phố Vĩnh Yên. Câu tục ngữ này nói về công lao của quan Thượng Láng (Thái tể Nguyễn Duy Thì, người xã Thành Lãng, huyện Bình Xuyên) đã xin vua Lê trích công quỹ cấp cho dân đắp đê sông Cánh từ địa phận làng Càn San đến đầu cầu Mùi để chống lũ Tam Đảo bảo vệ mùa màng (đê này vẫn còn đến nay), dài hơn 10km từ Miếu Gió (Hương Canh), vòng qua cống Sáu Vó (xã Tân Phong) đến đầu cầu Mùi.
Đi vua nhớ, ở vua sợ
Thái tể Nguyễn Duy Thì, một mình coi sáu Bộ, giúp vua Lê chúa Trịnh cai quản đất nước nên khi ông đi vắng, vua chúa đều nhớ; nhưng tính tình ông cương trực nên vua chúa lại ngại ông ở gần.
ăn Cói, nói Láng

Câu trên vẫn là nói về 2 nhân vật Quận Hẻo và Thượng Láng. Quận Hẻo người làng Cói (nay thuộc phường Hội Hợp, thị xã Vĩnh Yên) có thời đã kiểm soát một vùng rộng lớn bao gồm phủ Tam Đái (Vĩnh Phúc), phủ Lâm Thao (Phú Thọ), lan sang cả Tuyên Quang, Thái Nguyên. ông vừa là tổ chức cho nghĩa quân làm ruộng, chứa lương, vừa thu thuế nông lâm sản để nuôi dưỡng lực lượng. Những người phản ứng chính sách của ông cho là thu quá nặng, “ăn nhiều quá”. “ăn Cói” chính là ám chỉ việc làm đó của Quận Hẻo.
“Nói Láng” là đề cao thế lực của quan Thượng Láng được vua Lê chúa Trịnh vì nể, tâu gì được nấy.
Vua Lương Điền là tiên khi trước
Vua Phong Doanh giúp nước đại thần
Lương Điền và Phong Doanh là 2 thôn thuộc xã Bình Dương. Làng Lương Điền thờ Cao Tăng đời Hùng Vương. Làng Phong Doanh thờ Trương Hống, Trương Hát, 2 vị tướng tài có công đánh giặc nhà Lương thời vua Triệu Việt Vương (thế kỷ VI). Theo thần tích, Trương Hống, Trương Hát sinh quán ở làng Phong Doanh.
Tuần Giang, nho Hứa bán chúa lập công
Vào năm Bính Ngọ (1780), Đoan Nam Vương Trịnh Khải bị Nguyễn Hữu Chỉnh theo nhà Tây Sơn đánh bại, chạy khỏi thành Thăng Long qua huyện Yên Lãng (nay là Mê Linh) gặp tiến sĩ Lý Trần Quán. Quán đón Khải về nhà ở Hạ Lôi, giao cho học trò là Tuần Giang đưa đi trốn. Tuần Giang mưu cùng Nho Hứa đem Trịnh Khải nộp Tây Sơn. Lý Trần Quán hay tin liền mổ bụng tự sát để tỏ lòng trung với chúa Trịnh.

Kiên Cương có một Đốc Cù
Viện binh lên đánh Sử Cu ban ngày
Kiên Cương có một Đốc Cù
ở Văn Trưng xã hằn thù chan chan
Phá nhà Lý Mận tan hoang
Bắt con cùng vợ, đem giam khắp làng

Đốc Cù là một đốc binh của giặc Pháp người xã Kiên Cương. Có một người tên là Cóc Đại người làng Văn Trưng (xã Tứ Trưng) lập mưu giết được Đốc Cù, trừ hại cho dân. Quân Đốc Cù kéo xuống trả thù, đốt phá cả làng Văn Trưng.
“Nhất Cóc, nhị Rùa, tam Cua, tứ Lợn”. Bốn người giầu nhất làng Văn Trưng. Cóc họ Nguyễn, người Văn Trưng nhưng ở Thế Trưng. Ruộng bên kia đầm Ngòi, mùa gặt phải bắc riêng một cái cầu tre gọi là Cầu Cốn cho thợ gặt đi lại. Rùa cũng có rất nhiều ruộng. Cua có nhà gần chợ Dưng, giầu vì buôn bè, nhà to bán cho xã lấy gỗ làm đình, lắm tiền kẽm, tiền chất lên gãy cả gác, bay ra cả chợ. Lợn họ Phùng, tế thọ cho mẹ, giết trâu mổ bò ăn uống linh đình, bò thui ăn không hết bỏ quên hẳn một con, lại còn đón cả người về đốt cây bông, múa

Rối nước…
Tỉnh, cai Vũ
Phủ, cai Tài
Tang Đố, mẹ Quắc
 
Thứ nhất tổng Trai
Thứ hai mẹ Quắc

Bốn người tai quái trong vùng. Cai Vũ là cai lính cơ dinh Tuần phủ khét tiếng hay đánh người, dân căm ghét. Cai Tài ở phủ cũ chuyên ăn cướp đường, chiều vàng mặt trời, không ai dám đi qua cổng phủ. Tổng Trai, chánh tổng Tang Đố, đi xe song mã nhưng bắt người kéo thay ngựa; trời mưa, sai đánh trống gọi cả làng đến chạy đỗ đang phơi cho nhà nó. Mụ Quắc ở Đường Quai(?) bán hàng nanh nọc, cãi nhau với ai là tốc ngay váy lên vỗ bành bạch! ai cũng kiềng mặt không muốn dây.

Phó Ché kẻ Đông
Bà Nông làng Thiều
Nói Liều Lý Hành
Nhong nhanh bá Khả
Hay vả Tổng Môn
Lôm côm ông Thái
Lập trại Lý Ngô
Bấm bô chánh hội
Hành tội chánh Gia

Một số người thường được dân Lập Thạch nói đến: Phó Lý Ché ở Sơn Đông, mắt lé, ác có tiếng; bà Nông là một người đàn bà lắm điều nhất làng Thiều Xuân; lý Hạnh cũng người Thiều Xuân; bá Khả là một bá hộ hay sĩ diện hão; chánh tổng Môn hay đánh người; chánh tổng Hội không kín mồn kín miệng; chánh hội Gia là cường hào gian ác bị Cách mạng trừng trị trước ngày Tổng khởi nghĩa.

 Kinh tế  

 Nông nghiệp
Người nông dân Vĩnh Phúc “trông trời, trông đất, trông mây”, trông cây cối, côn trùng để đoán thời tiết mà cày cấy đúng thời vụ.
Tam Đảo đội mũ, nước lũ sẽ về
Vào mùa mưa, thấy mây đen dày đặc đỉnh núi Tam Đảo biết là nước lũ sẽ đổ về, một luồng qua thôn Xạ Hương (xã Minh Quang) và thôn Thanh Lanh (xã Trung Mỹ) theo sông Cầu Bòn tràn về sông Hương Canh (Bình Xuyên), một luồng theo sông Sơn Tang (sông Phan) đổ vào đầm Vạc (thị xã Vĩnh Yên), có thể làm ngập úng cả vùng lòng chảo nam Bình Xuyên - bắc Yên Lạc.
Mưa đồng Bay vừa trông vừa chạy
Mưa Tam Đảo bảo nhau đi cày
Người làng Bàn Giản (Lập Thạch) ở về phía tây đỉnh Tam Đảo (khu nghỉ mát) trái lại, thấy mưa Tam Đảo cứ ung dung đi cày vì không mưa tới; nhưng thấy cơn mưa đồng Bay (xã Đồng ích) phía tây nam Bản Giản thì sẽ mưa ngay.
Động mây Độc Tôn, vác nồi rang thóc
Động gió núi Sóc, đổ thóc ra phơi
Vùng Kim Anh, Đa Phúc thấy mây đen đỉnh núi Độc Tôn là sẽ có mưa, thấy gió núi Sóc (còn gọi là núi Vệ Linh) là trời sẽ nắng.
Cơn mưa đằng đông cõng chồng mà chạy
Cơn mưa đằng tây mưa dây gió giật
Cơn mưa đằng nam vừa làm vừa chơi

 
Rồng đen hút nước được mùa
Rồng trắng hút nước thì vua đi cày
Người vùng giữa huyện Vĩnh Tường thấy rồng đen cuốn phía tây (phía sông Hồng) cho rằng mưa gió thuận hoà, còn thấy rồng trắng thì ít mưa, phải làm lễ cầu đảo.
Người vùng hạ huyện Tam Dương quan sát thấy nắng diễn biến trong một năm như sau:

Tháng Giêng thì nắng hơi hơi
Tháng Hai thì nắng tuyết giời nắng ra
Tháng Ba được trận nắng già
Tháng Tư có nắng nhưng mà nắng non
Tháng Năm nắng đẹp nắng ròn
Tháng Sáu có nắng bóng tròn về trưa
Tháng Bẩy vừa nắng vừa mưa
Tháng Tám còn nắng nhưng chưa ngắn ngày
Tháng Chín nắng ớt, nắng cay
Tháng Mười có nắng nhưng ngày ngắn hơn
 
Tháng Tư mồng tám không mưa
Bỏ cày bỏ bừa mà đi cuốc nương

Từ cuối tháng ba ta cho đến ngày “tắm Phật” mà không có mưa thì không có nước ngả ruộng làm mùa, sẽ trễ thời vụ.

Làm ruộng thì trông tua rua
Chớ trông hoa quả mà thua bạn điền

Làm mùa, nhìn bầu trời thấy sao tua rua mọc thì bắt đầu cấy. Vùng đồi gò phía bắc các huyện Tam Dương - Bình Xuyên theo dõi hoa quả cây sim thấy:

Sim ra nụ, lúa có đòng
Sim ra hoa, cày ngả
Sim ra quả, cày cấy
Sim được lấy, cấy xong.

Tháng ba âm lịch, sim có nụ là lúa chiêm đứng cái có đòng. Cuối tháng ba, sim ra hoa là lúc cày ngả ruộng mùa, tháng năm sim có quả là vụ cày cấy, tháng sáu sim chín là phải cấy xong.
Sông Ngân Hà dọc nhà, lúa chín
Nhà ở ngày trước thường nhìn hướng đông nam, sông Ngân Hà song song với nóc nhà (hướng tây bắc - đông nam) là vào mùa gặt.

Muốn ăn cơm chăm
Ném mạ rằm tháng chín
Lúa cấy tháng chạp
Đạp gốc mà gặt

Cấy chiêm, muốn tốt phải ném mạ vào rằm tháng chín ta, cấy tháng chạp ta. Lúa sẽ tốt ngập đồng, khi gặt không có đất trống để đặt chân, phải đạp lên gốc rạ mà cắt lúa.
Nhưng với các chân ruộng chiêm đầm thì:

Xanh nhà hơn già đồng
Chiêm xanh lành gạo
Vì:
Lúa chiêm là lúa chiêm bao
Một đêm đến sáng thì nào thấy chiêm

Chỉ mưa có một đêm mà cả cánh đồng ở Đập Nứ (xã Vũ Di) đã chìm nghỉm, nước ngập đến cằm không gặt được.

Gió bấc thì nhấc dây lên
Gió đông thì trồng dây xuống

Trồng khoai lang, tránh ngày gió mùa đông; nên trồng vào những ngày trời ấm, có gió đông.

Kỹ thuật canh tác
Về kỹ thuật làm đất, Vĩnh Phúc có những câu:
Cày nông béo trâu, cày sâu tốt lúa
Chiêm thối cỏ, mùa nỏ đất
Đất ải bằng rải phân
Hòn đất nỏ bằng giỏ phân
Làm đất kỹ là khâu thâm canh quan trọng hàng đầu. Làng Tuân Lộ đa đinh thiểu điền nên bao giờ cũng đảo ải: lấy cào lấy cuốc lật hòn đất lên phơi, một hay hai lần đảo đất, phơi cho đất trắng ra mới tháo nước vào bừa cấy.

Đồng ruộng xã Tứ Trưng là loại đất thịt nặng, nông dân cày bừa lại nhiều lần, đến khi “Rút chân lên, chân không còn vết; bốc bùn lên, bùn chảy hết kẽ tay” mới cho là được. Đất thịt nặng mà làm đất nhuyễn đến thế thì làm gì lúa chẳng tốt.
Làm ruộng nhất nước, nhì phân, vùng nào cũng quý phân bón:

Có phân thì lúa mới xanh
Có bộ quần áo mới ra anh học trò

Đặc biệt là Đại Đồng đặt việc lấy phân bắc để ủ bón ruộng thành một tập tục thiêng liêng của làng ai cũng phải tuân theo:

Đại Đồng có lệ đi phân
Cả trai lẫn gái cả dân Đại Đồng
Đại Đồng mà chẳng lấy Phân
Đến khi có tiệc thì dân chẳng ngồi cùng

Một khâu quan trọng là phải chăm sóc con trâu, đầu cơ nghiệp của nhà nông:

Trâu béo kéo khoẻ đường cày
Trâu để ốm gầy, lúa cũng héo hon

Kinh nghiệm chăn nuôi
Nuôi lợn, nên chọn con giống:
Tai to mõm bẹ lưng dài
Mông đầy vai rộng là loài dễ nuôi
Thưa lông, nỏ hầu
Đầu to, mõm bẹ
Lang nhẹ, vắt thân
Chân đi cả bàn
Vú tròn lườn sa
Thêm ba khoanh trán
Mắt trắng lông thưa
Tai lá mít, đít lồng bàn
Giống ấy đắt mấy quan tiền cũng mua.
Chọn trâu:
Trâu hoa tai, bò gai sừng
Lang đuôi thì bán, lang trán thì dùng
Chọn gà:
Nuôi gà phải trọn giống gà
Gà ri bé giống nhưng mà đẻ mau
Nhất to là giống gà nâu
Lông dầy thịt béo về sau đẻ nhiều
Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua
Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy.


Đặc sản nông nghiệp

Lúa đồng Oai, khoai đồng Bầu
Đồng bầu ở xóm Đậu, xã Định Trung (Vĩnh Yên) là chân ruộng bờ ngòi, sẵn nước tát không sợ cạn nên lúa tốt; đồng Bầu ở phường Liên Bảo (Vĩnh Yên) là chân đất màu pha cát đen và sỏi nhỏ, gọi là đất óc chó, trồng được giống khoai sọ sai củ, vừa quánh vừa bở rất ngon.

Nhất Sậu Quả, nhì Gả Gối

Hai làng Sậu, Quả nay thuộc xã Kim Xá (Vĩnh Tường); hai làng Gả, Gối nay thuộc xã An Hoà (Tam Dương). Các nơi trên đều có nhiều thóc gạo.

Dứa Hướng Đạo, gạo Long Trì 
Dứa Hướng Đạo, gạo Làng Chùa

Thôn Hướng Đạo, làng Chùa nay thuộc xã Hướng Đạo, thôn Long Trì nay thuộc xã Đạo Tú, đều ở huyện Tam Dương.

Tiền bà Chúa, lúa Dăm Đồng

Bà Chúa nói trên có tên là Đàm Thị Hiến, một cung phi đời Lê Cảnh Hưng (1740-1758) tiền nhiều vô kể, tậu ruộng ở vùng Liên Châu (Yên Lạc). Dăm Đồng là tên nôm vùng Yên Đồng (Yên Lạc) có nhiều ruộng tốt gạo ngon.

Thấy ruộng Đồng Vệ thì ghê
Thấy gạo Đồng Vệ thì lê mủng vào. 

Ruộng Đồng Vệ (Vĩnh Tường) được bón phân bắc nên lúa tốt, gạo ngon nhất vùng, ai cũng chuộng.

Khoai cầu Đá, cá ao làng

Cầu Đá, Ao làng của thôn Thụ ích, xã Liên Châu (Yên Lạc) có khoai sọ to, ngon, nhiều cá béo.

Tép đầm Vạc, lạc chợ Cói
Cỗ Chín lợn mười trâu không bằng tép dầu đầm Vạc
 
Cơm ăn mỗi bữa mỗi bò
Chả bằng một cái tép kho đầm Dùng

Đầm Vạc ở thị xã Vĩnh Yên, đầm Loan và đầm Dùng ở thôn Hoà Loan, xã Lũng Hoà (Vĩnh Tường) có đặc sản tép dầu nổi tiếng.

Cua đồng Rộc
ốc đồng Khoang
Khoai lang đồng Mái
Con gái Đình Chu

Các làng Tiên Lữ, Hoàng Chung (Lập Thạch) có cua, ốc, khoai ngon; con gái làng Đình Chu giỏi giang, ngoan nết, chịu thương, chịu khó…

Tiền Phù Cốc, ốc Bồ Điền

Phù Cốc (xã Tam Phúc) giàu có, lắm tiền; Bồ Điền (xã Vũ Di) có nhiều ốc ngon.

Bánh đúc kẻ Đanh, bánh hành kẻ Láng

Bánh nẳng chợ Tràng, bánh gạo rang Tiên Lữ

Bánh làng Nội, sôi làng Quýt

Thịt làng Ta, ma làng Gật

Đanh là tên của làng Đinh Xá (xã Nguyệt Đức, Yên Lạc). Kẻ Láng là tên nôm của xã Thanh Lãng (Bình Xuyên). Tiên Lữ (Lập Thạch). Làng Nội là Nội Phật, làng Quýt là Quất Lưu, làng Ta là làng Ngoại Trạch, xã Tam Hợp, đều ở huyện Bình Xuyên. Mỗi làng trên đều có một loại bánh hoặc một loại thức ăn ngon, nổi tiếng trong vùng.

Làng nghề thủ công nghiệp
Vĩnh Phúc xưa có nhiều làng làm nhiều nghề thủ công nghiệp khác nhau. Có những làng nghề nổi danh, được ghi lại trong tục ngữ, ca dao.

Mộc Tứ Xã, ngoã Hương Canh

Tứ Xã là xã Thanh Lãng (có 4 thôn: Xuân Lãng, Yên Lan, Hợp Lễ, Minh Lương) có nghề mộc. Hương Canh (thị trấn Hương Canh) có nghề thợ xây.

Ngói lò Cánh, bánh quán Đanh

Hương Canh có loại ngói “tây”, ngói “Hưng Ký” lợp nhà đẹp và bền. Bánh quán Đanh là bánh đúc làng Đinh Xá.

Sành Móng Cái, vại Hương Canh

Hương Canh còn có khu Lò Cang, sản xuất các thứ cang chĩnh nổi tiếng từ thời Lê

Lụa Tràng vải ó khốn khó cũng mua

Ó là làng Vân ổ (xã Vân Xuân, Vĩnh Tường) có loại vải tốt.

Chả nhầm, vải Lầm bán cho ai

Lầm là làng Lâm Xuyên (xã Tam Hồng, Yên Lạc) cũng có nghề dệt vải vuông, nhưng vải xấu, không bằng vải ó.

Đất chỉ vàng, làng cò trắng

Làng Thụ ích (xã Liên Châu, Yên Lạc) có nghề làm chỉ tơ tằm; ruộng đồng tốt, rộng thẳng cánh cò bay.

Nghinh Tiên chắp chạc quay thừng
Trung Nguyên thúng mủng đã từng có nhau

Làng Nghinh Tiên (xã Nguyệt Đức, Yên Lạc) có nghề vặn thừng, làng Trung Nguyên (xã Trung Nguyên, Yên Lạc) có nghề đan thúng. Hai làng xưa kết nghĩa với nhau.

Bích Chu đan cót đan nong
Vân Giang nấu rượu, làng Thùng đánh dao

Ba làng trên đều ở huyện Vĩnh Tường. Bích Chu ở xã An Tường, Vân Giang, Thùng Mạch ở xã Lý Nhân

Dao kia chợ sắt Phú Đa
Cau kia thì ở sông Đà mang lên

Xã Phú Đa (Vĩnh Tường) có chợ bán các mặt hàng sắt.

Kẻ Dưng đi bán cá con
Kẻ Cánh gánh đất nỉ non nặn nồi
Kẻ Tự gánh đá nung vôi
Kẻ Rau nấu rượu cho người ta mua

Kẻ Dưng là xã Tứ Trưng (Vĩnh Tường), Kẻ Cánh là Hương Canh, Kẻ Tự ở xã Đại Tự; kẻ Rau là thôn Cựu ấp, xã liên Châu đều ở huyện Yên Lac.

Kẻ Gát gánh đá nung vôi
Kẻ Gốm nấu rượu cho người sang mua

Kẻ Gát là làng Tiên Cát (Thành phố Việt Trì), Kẻ gốm là làng Quan Tử, xã Sơn Đông (Lập Thạch).

Giường tre Vĩnh Mỗ
Nhà gỗ Kiên Cương

Làng Vĩnh Mỗ nay thuộc thị trấn Yên Lạc có nghề làm dát giường và đóng giường tre rất đẹp. Làng Kiên Cương nay thuộc xã Ngũ Kiên có nghề mộc nổi tiếng về làm nhà gỗ.

Hiển Lễ nặn đất nung nồi
Hương Canh làm vại, làng Chồi đan nong
Nội Đồng đan võng bện thừng
Cầu Xây làm gạch, Hối Đồng nung vôi
Yên Lạc có bãi sông bồi
Dâu trồng thêm bãi, tằm nuôi thêm nhà…

Làng Hiển Lễ thuộc xã Cao Minh, Nội Đồng, Hối Đồng thuộc xã Đại Thịnh; Cầu Xây thuộc xã Phúc Thắng, đều ở huyện Mê Linh.

Chợ búa

Nón em mua ở chợ Giang
Hôm nay đi chợ gặp chàng cùng vui
Nón em che gió che trời
Che sao Bắc Đẩu, che người tri âm

Chợ Giang là chợ xã Thổ Tang (Vĩnh Tường)

Dù ai buôn đâu bán đâu
Mười lăm tháng tám phường trâu sẽ về

Chợ Giang xưa cũng là chợ trâu. Phiên chính vào ngày rằm hàng tháng; phiên chợ ngày 15 tháng Tám là đông nhất.

Tay cầm chiếc nón Dịch Đồng
Hỏi chàng có biết má hồng em đâu
Nắng mưa chiếc nón đội đầu
Xá nào chàng giữ cho nhau bận lòng

Dịch Đồng thuộc xã Đồng Cương (Yên Lạc)

Lá hồ chợ São gánh ra
Móc ở chợ Lối bán ra vở ngoài
Khua nón thì ở chợ Luông
Cái nón đôi luồng nó ở chợ Dưng

Một chiếc nón thúng quai thao quan hệ mật thiết với 4 làng: lá hồ để làm nón mua ở chợ São (Tràng São, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) móc để khâu nón mua ở chợ Lối (xã Xuân Lôi, Lập Thạch); khua nón mua ở chợ Luông (xã Vân Phú, Phù Ninh); làm xong được bán nhiều ở chợ Dưng (xã Tứ Trưng)
Chợ Dưng còn được nhắc đến trong các câu:

Bỏ con bỏ cháu, không ai bỏ mồng 6 chợ Dưng
 *
Đầu đình có giếng phong quang
Có cây cổ thụ có hàng nghỉ ngơi
*
Chợ Dưng mồng sáu tiệc vui
Khắp nơi náo nức về chơi hội làng
*
Đừng về đường ấy mà xa
Đi về Đinh Xá với ta cho gần
Đinh Xá có quán nghỉ chân
Có sông tắm mát lại gần chợ phiên
*
Chợ Lồ một tháng sáu phiên
Ngày tư ngày chín là phiên chợ Lồ
Làng Đinh Xá, xã Nguyệt Đức (Yên Lạc) ở gần sông Cà Lồ nên chợ gọi là chợ Lồ.
Bố em chẻ nứa đan sàng
Mẹ em đi bán chợ Giang, chợ Lồ
Bố em chẻ nứa đan bồ
Để mẹ đi bán chợ Lồ, chợ Giang
*
Ngủ đi cho bố đan bồ
Để mẹ đi bán chợ Lồ, chợ Giang
Ngủ đi cho bố đan sàng
Để mẹ đi bán chợ Giang, chợ Lồ
*
Chợ Chùa một tháng sáu phiên
Nếu không có chợ cũng phiền cho ta
Chợ Chùa chợ của ông cha
Xưa kia để lại cho bà con chung

Nhiều nơi trong tỉnh có chợ Chùa, nhưng chợ Chùa ở đây là chợ ở xã Ngũ Kiên (Vĩnh Tường).

Xứ Nam nhất chợ Bằng Gồi
Xứ Bắc Vân Khám, xứ Đoài Hương Canh

Hương Canh (chợ Cánh) là chợ lớn, nổi tiếng thời Lê, sánh ngang với chợ Bằng Gồi (nay ở huyện Thường Tín, Hà Tây), chợ Vân Khám (huyện Từ Sơn, Bắc Ninh).

Văn hoá cổ truyền
(Đình chùa, lễ hội, cổ vật, phong tục tập quán)

Đình, đền, chùa, tháp, thành cổ
Cư An thì có thành Dền
Hạ Lôi thì có ngôi đền thờ vua
Lạc Hồng xây đắp nền xưa
Hai Bà công đức nghìn thu còn truyền

Thành Dền còn có tên là thành Cự Triền hay thành trại, thành Cờ xưa thuộc làng Cư An (xã Tam Đồng) nay thuộc làng Phú Mỹ (xã Tự Lập) đều ở huyện Mê Linh; tương truyền đây là thành của bà Trưng Nhị. Đền Hạ Lôi, xã Mê Linh thờ Hai Bà Trưng và ông Thi Sách (chồng bà Trưng Trắc).

Bắt đền, ra miếu Phú Đa
Bao giờ miếu đổ thì ta mới đền

Đền Phú Đa thờ Lãng Trung Hầu Nguyễn Danh Thưởng làm ở cánh đồng xóm Giếng, xã Phú Đa (Vĩnh Tường) từ thời Lê Cảnh Hưng (giữa thế kỷ XVIII; từ ngày xây dựng đến nay, khoảng 150 năm vẫn vững chãi, chưa phải tu sửa lần nào).

Đinh Xá có đình có chùa
Yên Thư tế lễ rước vua về thờ

Làng Đinh Xá (Yên Lạc) thờ Quý Minh đại vương. Làng Yên Thư (xã Yên Phương, cùng huyện) lập làng sau, lại có 3 họ của Đinh Xá xẻ sang, lập đình và xin bài vị thành hoàng Đinh Xá về thờ

Đình thất phần, miếu tam xã

Đình xã Tứ Trưng (Vĩnh Tường) khi dựng chia làm 7 phần cho các làng gánh vác công việc chung, miếu cũng do 3 làng Văn Trưng, Lăng Trưng, Thế Trưng đóng góp xây dựng.

Người xấu như ma
Uống nước chùa Hà cũng đẹp như tiên
Người đẹp như tiên
Tắm nước đồng Chiền cũng xấu như ma

Chùa Hà Tiên thuộc xã Định Trung (thị xã Vĩnh Yên) là một di tích lịch sử đã được xếp hạng bảo vệ

Hỡi ai qua bến đò Then
Dừng chân mà ngắm tháp nghiêng bên đường

Tháp Bình Sơn ở xã Tam Sơn (Lập Thạch) còn gọi là tháp Then vì ở gần bến phà Then là một công trình kiến trúc nghệ thuật thế kỷ XIII.

Đồn rằng Tiên Lữ vui thay
Bên đông có miếu, bên tây có chùa
Giữa làng có đình thờ vua
Xung quanh nước chảy, đò đưa sớm chiều
Xã Tiên Lữ ở huyện Lập Thạch.
Thứ nhất miếu Rùa
Thì nhì chùa Rau

Miếu Rùa ở xã Tứ Trưng (Vĩnh Tường), chùa Rau ở xã Liên Châu (Yên Lạc) đều là những công trình kiến trúc cổ đẹp


Lễ hội

Bơi Me, vật Triệu, hát làng Dầu

Làng Me hay Diệm Xuân thuộc xã Yên Lập (Vĩnh Tường) có hội đua chải vào tháng 5. Xã Triệu Đề (Lập Thạch) có lò vật nổi tiếng. Làng Dầu tức Dữu Lâu (Việt Trì) nổi tiếng về hát ví

Rau gác Hạc bơi
Hạc gác Me bơi
Me gác Đức Bác bơi
Đức Bác gác Dạng bơi

Rau là thôn Cựu ấp, xã Liên Châu (Yên Lạc), Hạc là Bạch Hạc, Đức Bác và Dạng tức xã Tứ Liên (Lập Thạch). Các làng trên đều tổ chức đua chải trong hội làng; lần lượt làng này giữ

chèo thì làng khác hạ chải.
Tháng bẩy thì được xem bơi
Tháng hai xem rước được chơi ba đình

Hội Ba làng Hương Canh có nhiều trò diễn và thi tài, vui nhất là được xem rước và xem thi bơi thuyền trên sông Cánh.
Ba Đình là đình Hương Canh, đình Ngọc Canh, đình Tiên Hường xây dựng từ thời Lê, đã được xếp hạng bảo vệ cấp quốc gia.

Dù ai đi đâu về đâu
Nhớ về Bàn Giản cướp cầu hội xuân

Xã Bàn Giản (Lập Thạch) có hội cướp cầu tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng.

Hội chợ Dưng
Tháng Giêng mồng sáu tiệc vui
Gần xa nô nức đến chơi hội này
Trên mũ áo sắp bày nghi vệ
Dưới nhà trò các nghệ giở ra
Bốn bề đào đỏ chanh chua
Đôi bên hàng xứ giãn ra đánh cờ
Trai tráng lực thi bơi thuyền ván
Gái đang thì đánh dún đu đôi
Trên cầu quan hội ngồi chơi
Dưới thời các vãi các nơi cúng giàng
Từ chợ cho chí trong làng
Tổ tôm xóc đĩa đánh tràn cung mây
Ngày thời đàn ngọt hát hay
Đêm thời chèo hát, leo dây ầm ầm…

Hội chợ Dưng như thế, cho nên nhân dân trong vùng nô nức kéo đến chơi, “Bỏ con bỏ cháu không ai bỏ mồng 6 chợ Dưng”

Cổ vật, di tích cổ

Chuông Trò, trống Iếc

Trò là thôn Phương Trù (xã Yên Phương) có chuông đẹp và kêu vang. Iếc là thôn Thụ ích (xã Liên Châu), trống Iếc to hai vòng tay ôm, tang bằng gỗ mít sơn vẽ vàng son, rất đẹp.

Mõ phú Đa, trống Lương Nha, tù và Đại Tự
Trống Cổ Nha, mõ Phú Đa, tù và Đại Tự

Phú Đa ở Vĩnh Tường, Cổ Nha, Lương Nha, Đại Tự đều ở Yên Lạc, Mõ Phú Đa, trống Cổ Nha đánh lên, tiếng vang khắp vùng. Tù và Đại Tự kêu to, người thổi dài hơi rúc được 17 tiếng tí…u, tí...u, tu
Đình Tràng, miếu Hạc, tán đình Dưng
Đình Văn Trưng (Vĩnh Tường) có cái tán bằng vóc, rất to, xòe ra che kín một khoảng sân đình có quan viên đứng tế.

Phong tục tập quán

Đông Cao có lệ bó mo
Tráng Việt có tiệc đi mò ăn đêm

ông Cao thuộc xã Tráng Việt (Mê Linh) thờ bà Hồ Đề, tướng của Hai Bà Trưng, ngày mồng 6 tháng Giêng có tiệc bánh dầy khi giã xôi làm bánh phải lấy mo cau bó đầu chày. Tráng Việt (Mê Linh) cũng thờ tướng của Hai Bà là ả Lã, ngày tiệc cúng vào nửa đêm để tưởng niệm quân của Bà ả Lã quyết chiến, tới nửa đêm đánh giặc mới ngồi nghỉ ăn cơm.

Có về xem hội Hạ Lôi
Tháng Giêng mồng sáu cho tôi đi cùng
Kiệu bà đi trước kiệu ông
Nữ binh hộ giá, khăn hồng hài hoa

Ngày 6 tháng Giêng, khi rước từ nhà tiền tế ra đến cổng đền Hạ Lôi phải rước kiệu ông Thi Sách đi trước kiệu bà Trưng Trắc (vì đây còn là phạm vi gia đình, chồng đi trước vợ); qua cổng đền trên đường đi ra sông làm lễ mộc dục, phải rước kiệu Bà Trưng đi trước kiệu ông Thi Sách (vì đây là nghĩa quân thần, vua đi trước, bày tôi theo sau).

Quan hệ xã hội

Tình yêu nam nữ
Tình yêu nam nữ là tình cảm bẩm sinh đặc hữu của con người lẽ ra chẳng có gì phải dấu giếm. Nhưng thời trước, trong vòng trói buộc của lễ giáo phong kiến, dù có gặp nhau ở những nơi đông người, hội hè đình đám, hát ví hát đúm, con trai con gái vẫn phải dè dặt, kín đáo, tỏ tình một cách ý nhị, bóng bẩy, xa xôi. Ví như:

Đôi ta chắp chạc quay thừng
Năm chắp ba mối đã từng có nhau
Đôi ta ở đất làm thừng
Trăm chắp nghìn nối xin đừng quên nhau
*
Sơn Bình, kẻ Gốm bao xa
Cách một cái quán với ba quãng đồng
*
Bên dưới có sông
Bên sông có chợ
Ta lấy cô mình làm vợ được chăng?
Tre già để gốc cho măng
*
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về An Cát với anh thì về
An Cát có cây bồ đề
Có vực tắm mát, có nghề cá con

Tình cảm người con gái thường sâu sắc, mãnh liệt và chỉ hay bộc lộ những khi một mình một bóng canh khuya; mọi ý nghĩ dồn hết cho người mình “u mê”.

Tháng Giêng xuân tuyết mau mưa
Nhớ chàng những lúc sớm trưa vui cười
Tháng hai hoa đã nở rồi
Nhớ chàng em phải đứng ngồi thở than
Tháng ba nắng lửa mưa dầu
Nhớ chàng em những âu sầu chả tươi
Tháng tư sấm giục mưa rơi
Nhớ chàng thơ thẩn ra chơi vườn cà
Tháng năm gặt hái rồi rà
Nhớ chàng như thể nhớ hoa trên cành
Tháng sáu cày cấy chua canh
Nhớ chàng em phải lấn mình ra đi
Tháng bẩy thu tiết trở về
Nhớ chàng như nhớ lạng vàng trên tay
Tháng chín se lạnh gió bay
Nhớ chàng như thể bằng mây nhớ rồng
Tháng mười lúa đỏ đầy đồng
Nhớ chàng như chiếu đắp chung một giường
Tháng một tháng nhớ em thương
Tháng chạp chung chiếu giường chàng ơi
Mười hai tháng ấy chàng đi
Nhớ chàng em những đứng ngồi thở than!

Hôn nhân gia đình
Trở ngại lớn nhất cho việc xây dựng gia đình hạnhphúc thời trước là phải “môn đăng hộ đối” là “tiền cheo tiền cưới” nặng nề.

Làm trai lấy vợ Sơn Đông
Thịt xôi chả có, tiền chồng như non

Chém cha tục lệ bất công
Lấy vợ, lấy chồng thì ở mẹ cha
Người con chẳng dám nói ra
Cha mẹ ép gả thật là khổ đau
Người giàu thì lại lấy giàu
Chúng ta khổ cực có đâu dám vời
Nào là lễ lạt khắp nơi
Tuần kia, tiết nọ nhờ người nói năng
Nào là tiền chục bạc trăm
Cỗ bàn ăn uống ì ầm đôi bên
Thắp hương mặc cả số tiền
Hoặc nhiều hoặc ít phải liền đủ ngay
Làm cho người rể đắng cay
Nhờ người khất hộ chịu thay mới đành

Bao nhiêu cuộc lương duyên bị lỡ dở vì nghèo khổ. Bao nhiêu gia đình bị mang công mắc nợ vì cưới xin ăn uống linh đình. Bao nhiêu cảnh vợ chồng lấy nhau vì ép uổng nên chẳng ra gì:

Chót đa mang nên mới phải đèo bòng
Đã chót ăn cám phải ngủ cùng lợn con

đã chót lấy nhau thì cũng đành phải ăn ở với nhau cho qua đời trọn kiếp. Phần thiệt thòi nhất thường rơi vào người phụ nữ. Rất nhiều cô gái lấy chồng gặp phải gia đình cơ cầu, đầy ải:

Chả tham nhà ngói ba toà
Chỉ tham một nỗi mẹ cha rộng mồm
Tối về rức lác i om
Trống chầu chả có, lấy mồm cầm canh

Rồi cũng có khi ở vào tình cảnh chả biết nên khóc hay nên cười:

Rủ nhau lên cấy xứ Đoài
Cây lên chẳng được, được vài đứa con

Quan hệ mẹ chồng nàng dâu ít khi được xuôn sẻ; nàng dâu bị đối xử tệ bạc cũng chẳng được ai bênh che nên cũng hay nói xấu mẹ chồng:

Cô kia cắp nón đi đâu
Tôi nay chính thực nàng dâu mới về
Mẹ chồng ghê gớm mà lại gớm ghê
Tôi ở chả được tôi về nhà tôi
Mẹ chồng tôi xui chồng tôi đánh tôi
Đánh những gai cái, gai quan
Những gai sương sọng, những gân móc hùm
Nhà ai có nước mắt thừa
Tôi xin một tí tôi đưa mẹ chồng
Nhà ai có con chó già
Tôi xin một miếng làm ma mẹ chồng
Nhà ai có mảnh nứa non
Tôi xin một miếng làm đòn khiêng ma

Tinh thần chống đối phong kiến, đế quốc
Nỗi khổ cực của nhân dân
Đình đám, ma chay, cưới xin, sưu thuế phu phen tạp dịch đã đẩy nhân dân vào những cảnh bần cùng:

Bây giờ túng lắm em ơi
Bán hết cái nồi cho chí cái vung
Còn mười thước ruộng ngoài đồng
Cửa nhà sạch hết trông mong nỗi gì
Còn được cái ổ lợn con
Nuôi chi ngoắt nghéo gầy mòn khốn thân
ăn thì chả có mà ăn
Bán đi trả nợ cho xong, mẹ mày
Kẻo mà nó kẹp đêm nay
Đôi chân kẹp phản, đôi tay kẹp giường
Giá nhà tôi đáng một nghìn
Cầm bằng mấy chục cho liền đêm nay
Bảy chục chẳng đủ nợ này
Hai chân kẹp phản, hai tay kẹp giường

Lậy ông tha kẹp cho tôi chạy tiền
Tôi về tôi bán vợ tôi
Lấy ba chục nữa cho đầy một trăm...

Nạn mua ngôi thứ
Tôi lạy vua lạy chúa trước đình
Thương làng thương nước thương tình cho tôi
Trời làm thất bát liên hồi
Lấy gì trả nợ mua ngôi cho chồng
Tôi nói ra thêm cực tấm lòng
Được ngôi được cả cái gông cái cùm
Thôi thôi tôi lạy ông trùm
Mai tôi bồng bế lên rừng kiếm ăn

Nỗi khổ của người vợ lính
Đường trường cách trở ngàn xa
Lấy ai tin tức để mà hỏi han
Một mình em giữ phòng loan
Trăng thu nguyệt tỏ giãi gan héo dầu
Trách ai cắt bỏ nhịp cầu
Để cho lòng thiếp thảm sầu đắng cay
Đố ai giải được lòng này
Có ai cởi mối sầu này cho không
Mỗi ngày đứng cửa dõi trông
Trách ai chín hẹn những không cả mười

Cảnh phu làm đường lên Tam Đảo
Tôi có nhời thăm u cùng bá
ởỷ trên này khổ qúa u ơi
Khi nào thong thả mát giời
Mời u quá bộ lên chơi vài ngày
Làm kíp chả được tiền ngay
Phải ăn gạo ngữ của thầy Cai Sơn
Một đồng mười sáu bơ đơn
Đong đi đong lại chỉ còn mười lăm
Thầy cai cứ đứng chăm chăm
Hễ ai hút thuốc lại nhằm cắt công
Trời mưa có thấu hay không
Quanh năm chẳng có một đồng thừa ra
Lấy gì đồng bánh đồng quà
Lấy gì mà gửi về nhà nuôi con
Mười năm làm ở đỉnh non
ở nhà cha mẹ vợ con mất nhờ
Thân tôi khổ đến bao giờ?

Cai thầu bóc lột phu phen đến xương đến tuỷ còn điền chủ thì bòn rút mồ hôi nước mắt của tá điền:

Mỗi người ba bát gạo xay
Tiền diêm tiền thuốc mỗi ngày ba xu
Bốn bát cũng được ăn no
Phải người phát gạo nó cho bát tồi
Bốn bát chỉ được ba thôi
Vừa trấu vừa thóc chỉ vừa ba thôi…

Cảnh vỡ đê lụt lội
Hỏi vua thuỷ phủ thế nào
Mà dâng nước ấy ra vào lắm phen?
Hại riêng một tỉnh Vĩnh Yên
Từ Tị đến Hợi hai năm vỡ đường
Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường
Trong ba huyện ấy nhiều đường đắng cay
Càng trị, nước lại càng đầy
Vỡ đê Đại Định giữa ngày ba mươi
Quan thời tế ngựa chạy xuôi
Dân phu tan tác mỗi nơi mỗi người
Người thì vơ với giữa đồng
Người thì lưu lạc biết phương chốn nào
Một đêm nước chảy tuôn trào
Chỗ thấp cũng đến, chỗ cao cũng lỳ
Chỗ thì thối nát mất mạ đi
Chỗ thì thối lúa, chỗ thì thối khoai…

Năm Hợi nói trên là năm Tân Hợi (1911). Không chỉ năm này mà đê Đại Định(Vĩnh Tường) vỡ đi vỡ lại mấy lần
Đỉnh điểm khổ cực của nhân dân là nạn đói tháng ba năm ất Dậu (1945)

Giời làm chết đói tháng ba
Người thì bán cửa bán nhà để ăn
Người thì bán áo bán khăn
Bán đi cho sạch, cốt ăn sống người
Người thì bán mâm bán nồi
Người thì bán cả đồ chơi trong nhà
Người thì bán đất bán nhà
Người thì bán cả mâm xà bát hương
Người thì bán sập bán giường
Có người bán chĩnh làm tương độ chầy
Giời ơi đất hỡi có hay?

Tinh thần đấu tranh chống phong kiến đế quốc
“Con giun xéo lắm cũng quằn”, càng bị phong kiến đế quốc áp bức bóc lột, nhân dân càng nung nấu tinh thần phản kháng. Đã có không ít trường hợp, dân nổi lên đánh cả quan lại để bảo vệ cuộc sống của mình.
Nổi bật nhất trường hợp làng Đinh Xá thời Lê:

Rằng dân khổ cực đã lâu
Xẻ đường xây cống để cầu ấm no
Quan trên xét thấu tình cho
Giúp dân nên được chuyện trò là ơn
Dẫu rằng sấm sét chẳng sờn
Dẫu rằng rìu búa, sắt son một lòng
Ngày mai cống được thông dòng
Đường quan đắp lại, cánh đồng làng xanh
Huyện quan bỗng nổi lôi đình
Sai quân lính phá công trình của dân
Lạ gì quan lại bất nhân
Làm cho khốc hại, còn ân nghĩa gì
Cả làng kẻ tính người suy
Đấu khẩu chẳng được, âu thì phải choang
Giữa đường thấy sự bất bằng
Trẻ già trai gái sẵn sàng xông lên
Gậy phang, gạch đá ném liền
Đánh cho bọn lính đảo điên tơi bời…

Ông Đốc Ngữ
Vào nhà hội Hanh
Lấy cái chiếu manh
Đem ra làm đuốc
Quân thì đi trước
Tướng thì đi sau
Các tướng bảo nhau
Kéo vào quan Cử
“Nào, người Đốc Ngữ
Cứng lắm vào đây!”
Kẻ thì trèo cây
Kẻ thì dưới đất
Của thì nó cất
Trâu bò đuổi xa
Cũng không lấy được

Nói về hoạt động của nghĩa quân chống Pháp do ông Đốc Ngữ cầm đầu ở vùng Vĩnh Tường.

Các con cứ việc ăn làm
Các quan mở nước chằng can cớ gì

Đại ý lời ông Đội Cấn dặn dò dân làng Hoàng Xá khi nghĩa quân đến đồn trú trong làng

Thịt béo, rượu nồng sướng mồm quan lớn
Mình trần, khố rách trơ đít dân đen

Tương truyền dây là đôi câu đối của đồng chí Lê Xoay dán ở cổng phủ Vĩnh Tường.

Ca dao kháng chiến
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) nhân dân Vĩnh Phúc đã trực tiếp chiến đấu với giặc 5 năm liền trên vùng đất quê hương và đã cử 45.700 người dân đi công phục vụ tiền tuyến. Trong chiến đấu, nhân dân đã sáng tác nhiều câu tục ngữ, ca dao, hò vè, nhưng khó lòng phân biệt nổi đâu là của chung dân công, đâu là của riêng Vĩnh Phúc. Như câu: “Đèo cao thì mặc đèo cao, ta lên đến đỉnh ta cao hơn đèo..”
Xin giới thiệu một số bài lưu hành trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, ca ngợi cuộc sống mới tự do hạnh phúc sau ngày tổng khởi nghĩa 1945.

Đập tan chế độ bất công
Cưới đời sống mới thực hành mới hay
Cô dâu chú rể ngày nay
Đôi bên thông cảm định ngày kết duyên
Lấy nhau không phải mất tiền
Không phải cỗ lễ, không phiền mối manh
Chỉ mời đại biểu các ngành
Uỷ ban hành chính, chấp hành nông dân
Mời cả du kích dân quân
Đều cùng đến dự là phần vinh quang
Trên thời cờ đỏ sao vàng
Có Hồ Chủ tịch chỉ đường cứu dân
Thế là sung sướng muôn phần
Giai nghèo thoát khỏi nợ nần xưa kia
Ngụm nước điếu thuốc là tình
Cứ gì ăn uống linh đình mới vui
Gà vịt chớ giết lôi thôi
Mỗi người một bữa không vui đâu mà
Đoạn rồi công nợ thêm ra
Dân làng cười nói, lợn gà làm chi
Việt Minh đã có nội quy
ăn uống thêm nợ làm gì khổ thân?

Vè là một thể thơ ca dân gian có lúc gần với ca dao, đồng dao có lúc gần với dân ca (dùng vè để hát, để diễn xướng), rất phổ biến ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Như tên của nó, vè là một lối kể “vần vè”, (gần như hát, vì thế có người gọi là dân ca, là diễn ca) về một việc gì, một chuyện gì, một người nào… cho nên, theo ông Vũ Ngọc Phan, thể vè là một thể tự sự. Khi muốn kể các thứ cây, các thứ quả, một giai thoại hay một việc gì đó mới xảy ra (xấu hoặc tốt) nhân dân hay làm vè. Dân gian thường gọi là đặt vè.

Đặt vè là một sở trường của người lao động. Bất kỳ làng xã nào cũng có người đặt vè. Nó là thể loại dễ sáng tác, nôm na hơn thơ và trường ca,không đòi hỏi nghệ thuật tinh tế. Số lượng vè nhiều vô kể, hễ có sự kiện gì, việc gì muốn nói là người ta đặt vè, kể vè.

Khi trong làng có một việc mà quần chúng nhân dân cho là xấu, người ta thấy ngay bài vè dán ở cửa đình và thấy trẻ con hát. Đó là một cách tạo dư luận nhanh, kịp thời và xác đáng của nhân dân, được tác giả vô danh biểu hiện bằng những câu vần vè làm cho những kẻ “có tật phải giật mình” và phải lo sửa chữa.

Cũng có khi nhân dân đặt vè để ca tụng một việc tốt, biểu dương một anh hùng, một nhân vật lịch sử mà mình yêu mến. Những bài vè loại này chính là những bằng chứng cụ thể, hùng hồn về những sự kiện lịch sử đã xảy ra, và đặc biệt là có thể phản ánh một cách khá chính xác về tâm lý, khuynh hướng của nhân dân, của tập thể quần chúng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thể vè thường là thể bốn chữ, có khi tám chữ (đọc ngắt ra cũng thành bốn chữ), cũng có khi là lục bát hay song thất lục bát. Nghĩa là, toàn hình thức văn học dân tộc. Vè có bài ngắn chỉ vài ba câu, có bài dài hàng trăm câu

Ở đây, không bàn luận về vè nói chung, mà chủ yếu sưu tầm, đối chiếu so sánh để chọn ra những bản hợp lý nhất một số bài vè tiêu biểu mang sắc thái Vĩnh Phúc, đã từng lưu hành rộng rãi trên đất Vĩnh Phúc và khu vực lân cận, xoay quanh các chủ đề nhân vật lịch sử, lễ hội, thế sự, kể tội ác của bọn phong kiến thực dân.

Đánh quan “quán đanh”
Làng tôi có quán đầu làng (1)
Có cây bóng mát, có hàng bánh chưng
Khách quan ai cũng muốn dừng
Cùng uống bát nước rồi cùng chuyện vui
Mấy năm tạm chiếm vừa rồi
Thằng Tây nó phá tơi bời, ai quên (2)
Quán Đanh tên hãy còn truyền
“Đánh quan” câu chuyện cổ truyền còn đây:

Nhớ xưa, nước đọng bùn lầy
Còng lưng mỏi gối, cuốc cày không công
Vì chưng nước chẳng thông dòng
Gây nên đồng trắng nước trong bốn bề
Quanh năm chiêm thối mùa khê
Xóm làng bỏ ruộng, tính bề tha phương
Kiếp người chi những đoạn trường
Hai vai kĩu kịt trên đường ngược xuôi
Mấy ông tóc bạc da mồi
Thấy con cháu khổ đứng ngồi băn khoăn
Tìm đường khơi úng, ngăn tràn

Tìm nơi chứa nước, tưới chan ruộng đồng
Nhân dân ra sức đồng lòng
Tay mai tay cuốc đường vòng xẻ ngay
Đất đào từng mảng chuyên tay
Công trình làm cống mấy ngày tạm yên
Tiếng đồn vang dậy khắp miền
Làng Đanh cùng đứng cả lên chống trời
Huyện quan Yên Lạc cả cười
Rằng: Làng Đinh Xá các ngươi làm liều
- Truyền cho dân phải biết điều
Thì quan giảm nhẹ bấy nhiêu lỗi lầm
Mấy người già cả nghĩ thầm
Kêu cho vỡ nhẽ, lỗi lầm ở đâu
- Rằng: Dân khổ cực đã lâu
Xẻ đường xây cống để cầu ấm no
Quan trên xét thấu tình cho
Giúp dân yên được chuyện trò là ơn
Dẫu rằng sấm sét chẳng sờn
Dẫu rằng rìu búa, sắt son một lòng
Ngày mai cống được thông dòng
Đường quan đắp lại, cánh đồng làng xanh
Huyện quan bỗng nổi lôi đình
Sai quân lính phá công trình của dân
Lạ gì quan lại bất nhân
Làm cho khốc hại còn ân nghĩa gì!
Cả làng kẻ tính người suy
Đấu khẩu chẳng được âu thì phải choang
Giữa đường thấy sự bất bằng
Trẻ già trai gái sẵn sàng xông lên
Gâỵ phang, gạch đá ném liền
Đánh cho bọn lính đảo điên tơi bời
Huyện quan bẩm tỉnh nặng lời
Làng Đanh nổi loạn, tội thời không tha
Xin trên mở cuộc điều tra
Những tên thủ phạm người già làng Đanh
Tỉnh Sơn (3) cứ bẩm thi hành
Về đây đã thấy đường làng như không
Nhưng quan vẫn chẳng vừa lòng
Quở: “dân náo động tổng trong huyện ngoài”
Bắt tên thủ phạm ra đây
Nọc ra mà tấn trăm roi mới vừa
Kêu rằng: “Dân xác như vờ
Chỉ vì lễ lạt không vừa lòng quan
Nhẫn tâm phá việc dân làm
Đang tay đánh đập dã man dân làng
Lại vu cho tội tầy đình
Cả làng tôi quyết tử sinh đến cùng
ở đây, đầu sỏ thì không
Công trình xây cống, làng cùng lo toan”
Quan trên cũng hết lẽ bàn
Quở rằng: “Cái tội đánh quan rõ ràng
Thảo nào cái quán đầu làng
Quán Đanh nói lại “Đánh quan” liền vần.
Phương ngôn bạc nhất là dân
Đổi tên “Quán Bạc” mới cân tội làng”
Thưa rằng: “Tên Bạc cũng sang
Làng tôi Trọng Khách hơn vàng chẳng ngoa”
Quan cao hứng, cười xoà, ra đối:
“Hàng quán Bạc trọng khách hơn vàng”
Đấy là một vế rõ ràng
Đối đi cho chỉnh sẵn sàng khoan dung
“Anh hùng rơm khinh người như rác”

Một ông già đứng dậy đáp ngay
Quan rằng: “Hay thật là hay!
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!” (4)

Nghe câu chuyện cũ vui sao
Cống Đanh đóng mở, nước vào nước ra
Đồng Mèn, đồng Nắng làng ta (5)
Lúa xanh bát ngát nở hoa hai mùa
Ta yêu biết mấy cho vừa
“Đánh quan” chuyện cũ bây giờ còn nguyên

(1) Cách làng Đinh Xá (tên tục gọi là Kẻ Đanh), huyện Yên Lạc 500m, ngày xưa có một cái quán ngói cho nhân dân qua lại nghỉ chân hóng mát, gọi là quán Đanh. Từ khi xảy ra chuyện nhân dân uất ức quá, hò nhau đánh tên quan huyện bạo ngược hống hách, mới bị quan trên về đổi tên là quán Bạc.

(2) Quán Đanh bị giặc Pháp phá huỷ trong thời kỳ tạm chiếm (1945-1954).

(3) Đời Lê, đời Nguyễn, làng Đinh Xá thuộc tổng Phương Nha, huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái, tỉnh Sơn Tây.

(4) Làng Đinh Xá hiện nay vẫn truyền tụng câu đối: Hàng quán Bạc trọng khách hơn vàng/Anh hùng rơm khinh người như rác.
(5) Từ khi có cống nước lưu thông, hai cánh đồng làng Đinh Xá là đồng Mèn, đồng Nắng khỏi nạn úng thuỷ, cấy được cả hai vụ, lúa rất tốt.


Vè đề Thám đánh giặc
Năm Nhâm Thìn ngày 12 tháng 8
Tôi là Hoàng Hoa Thám nông dân
Nát gan thời buổi phong trần
Thương dân quằn quại dưới chân kẻ thù
Bao xiết nỗi uất u chồng chất
Nhà nát tan, nước mất, đau sao
Cao cùng chín lớp trời cao
Giải cùng nghĩa sĩ đồng bào bốn phương
Kể từ lúc Tây Dương hiếp chế
Hoà ước giao quyền thế cho Tây
Triều đình cúi mặt bó tay
Sĩ phu bao nỗi đắng cay âm thầm
Các thành thị, trung tâm đường phố
Nhan nhản quân mũi lõ tóc vàng
Tây đầm xí xố nghênh ngang
Dinh toà hống hách phố phường giương oai
Nước ta nó bảo là của chúng
Mạng của ta cũng rẻ lắm thay
Máu của ta chúng uống no say
Dân ta là kiếp đoạ đày chung thân
Nhưng hồn nước anh minh còn sáng tỏ
Cho nên từ ngọn cỏ đến rừng sâu
Đồng bào đồng chí tương giao
Đồng tâm hiệp lực nêu cao ngọn cờ
Nêu cho nhau kiên cường ý chí
Vạn muôn người như ý một người
Thét lên cương quyết một lời
Đồng tâm hiệp lực diệt loài sói lang
Nhớ khi xưa anh hùng nghĩa sĩ
Chống xâm lăng liệt sĩ thơm danh
Bà Trưng, Bà Triệu sử xanh
Quốc Tuấn, Lê Lợi, Đại Hành, Quang Trung
Trương Định, Phan Đình Phùng chống Pháp
Gương anh hùng còn chép đến nay
Bây giờ gặp mặt nhau đây
Bàn thờ Tổ quốc hương bay ngạt ngào
Cũng nhớ lại phong trào chiến đấu
Càng nhớ trong lửa máu cha ông
Tiếng thơm vang dội ngàn xưa
Cùng nhau giữ lấy ngọn cờ thiêng liêng
Chúng ta tuy ở riêng khác tỉnh
Hãy cùng nhau chủ định đuổi Tây
Hỡi người dự lễ hôm nay
Cùng nhau ta nắm chặt tay thề nguyền
Thề kế tiếp trung kiên tiên liệt
Đem máu xương trừ diệt xâm lăng
Cùng nhau hô tiếng to vang
Việt Nam độc lập vững vàng muôn năm.

(Nhâm Thìn - năm 1892 là năm Đề Nắm hy sinh, nghĩa quân Yên Thế do Đề Thám lãnh đạo.
Trong hơn 20 năm kiên cường chống Pháp, có nhiều năm Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) đóng quân tại vùng núi Sáng Sơn huyện Lập Thạch, nhiều cụ già ở xã Đồng Quế (thuộc vùng chân núi Sáng, Lập Thạch) vẫn kể lại cho con cháu nghe rất nhiều câu chuyện ly kỳ về Đề Thám đánh giặc. Trên núi Sáng có những địa điểm người dân đồng Quế gọi là Hang Đề Thám, Kho lương, Bếp nuôi quân, Bách Bung, Đèo mai phục...

Không biết từ bao giờ, xuất phát ở người lao động hay do một nho sĩ yêu nước làm ra và lưu truyền trong dân gian một vế đối sau đây:

Sáng ra trông núi Sáng, thấy hoa vàng nhớ cụ Hoàng Hoa
Nghe nói vế đối này đến nay vẫn chưa có ai đối được.

Gần đây, trong một đợt đi công tác ở Lập Thạch chúng tôi được ông Lâm Phú, cụ Đường Hán đọc cho nghe một bài diễn ca mà các vị gọi là “Vè Đề Thám đánh giặc”, như đã giới thiệu ở trên).

Vè đội Cấn (1)
Năm Đinh Tỵ mười ba tháng bảy (2)
Nước Nam mình bỗng xảy can qua
Thái Nguyên mới có một toà
Khố xanh, khố đỏ được ba trăm người
Cũng chí toan chọc trời khuấy nước
ông Đội ra đi trước cầm binh
Chí toan lập tiểu triều đình (3)

Để cho cai đội khố xanh bằng lòng
ông phó quan bất tòng quân lệnh
(4)
Hoá cho nên huỷ mệnh xót xa (5)
Sai người mở cửa nhà pha
Đem tù ra điểm được là bao nhiêu?
Truyền tù nhân cứ theo quân lệnh
Chớ xem thường uổng mệnh như chơi
Các quan làm lễ tế trời
Cờ đề “Phục Quốc” tài bồi nước Nam
(6)
Phong tám tướng cùng đang quốc chính
Tù ba trăm, binh lính ba trăm
(7)
Đều cùng phát súng cho cầm
Vai thì vác súng, lưng khuân đủ đồ
Đường tỉnh Thái Kỳ khu chật vật (8)
Bao đường dây cắt hết đi ngay
(9)
Bấy giờ chủ tướng ra tay
Chọn đường mai phục, định ngày giao công
(10)
Chủ dây thép ra lòng bất phục
Nối dây vào đường cũ đánh đi
Trình rằng có giặc ở thì Thái Nguyên
Toà thống sứ, toàn quyền hội nghị
Lại có lời phủ dụ “hay ho”
(11)
Việc này nhà nước sẽ lo
Giấy tư ông Sáu nhỏ to sự tình (12)

Tỉnh Thái Nguyên loạn binh bối rối
Của đám tù, cai đội khố xanh
Vậy nên ông Sáu biết tình
Tự về Nam Định, Bắc Ninh tức thì
Lính các tỉnh nơi nào cũng vậy
Lính Đáp Cầu phải dậy tiên phong
Lính tây, khố đỏ, hội đồng
Mang quân lên đóng đồn ông Chu Điền (13)
Ngày mười sáu tiền quân, giáp trận
Lính Tây đà tử trận trăm ba
Bấy giờ khố đỏ tiến qua
Súng trường, trái phá, bắc hoà liên thanh
Xông lên thành khố xanh bỏ chạy
Kéo quân vào đóng tại đình trung
Ngoài thời trái phá đùng đùng
Khi vào đến tỉnh sạch không còn gì
Quan ông Đội liền đi lên núi (14)
Đào hầm sâu làm chỗ lánh thân
Nửa đêm quân kéo vào dân
Qua vùng Tam Đảo về gần Vĩnh An (15)
Mang quân thẳng hướng chợ Vàng
Đến làng Hoàng Xá rẽ ngang quân vào (16)
Xã đoàn không biết nghĩ sao (17)
Sai tuần ra hỏi quân nào đóng đây?
Tân quân mới nói khi nay
Các quan đi khôi phục ngày rày nước Nam
Truyền cho dân cứ ăn làm
Các quan đi mở nước không can cớ gì

Xã đoàn lòng vẫn hồ nghi
Tay cầm cái quắm đứng thì giờ lâu
ông Đội truyền ra chặt đầu
Nếu không biết phép pheng đầu một khi!
ông Đội sai quân tức thì
Mổ bò giết lợn làm rày cơm ăn
Truyền mời các cụ trong dân
Cho báo có giặc tân quân đóng làng
Việt Trì Tây mới kéo sang
Súng ống xe ngựa chật đường kéo đi
Đến ga Hướng Lại gặp thì (18)
Quân Tây đến đó định kỳ nghỉ ngơi
Xe cộ tiếp vận tới nơi
Quân Tây đi trẩy ngất trời ghê thay!
Bài binh lập trận bủa vây
Thổi kèn, súng bắn đạn bay vào làng
Đi đùng như thể pháo rang
Bắn như cuội rải cản đường quân đi
Trời cao còn có thánh tri
Gió mưa kéo đến Tây thì thôi ngay
Đến hai mươi, tin này đã báo
ông Đội kéo về đóng đạo Giang Tiên (19)
Đêm nghe súng nổ vang rền
Lính thua, lính phải kéo về Đèo Ngang (?)
Xuyên qua đèo Khế, đèo Giàng...
Lính thua, lính lại kéo sang Hoàng Đàm (20)
Bên Tây có ông Ba Xồm
Cho mày đi trước, mày nom beng đầu
ông Ba bắn chẳng trúng đầu
ông Đội bắn một phát vỡ đã đầu quan ba

Ngày nổi dậy can qua xố động
Muốn hoàn công trời chẳng cho làm
Sau quân ông Đội phải tan
Quân thua, quân phải kéo sang bên Tầu
Sau nhờ nấn ná ít lâu
Nuôi quân dưỡng tướng mưu cầu chuyện sau

(1) Bài này dựa vào lời kể của cụ lang Cơ (ở Vũ Di) của mọ Trí (ở Thổ Tang), có tham khảo thêm 3 bản: một bản trong cuốn “Về yêu nước chống đế quốc Pháp xâm lược”, nhà xuất bản Văn học 1967, một bản của cụ Đoàn ở xã Tân Lập (Đan Phượng, Hà Tây); một bản của Tô Thạch sưu tầm ở Thái Nguyên. Trong quá trình biên soạn có hỏi thêm ý kiến của một số cụ già ở Thái Nguyên, Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) để chỉnh lý lại những chỗ cần thiết.
(2) 13 tháng 7 Đinh Tỵ tức là ngày 30-8-1917
(3) ý nói dựng cờ khởi nghĩa

(4) Không theo mệnh lệnh cấp trên, ý nói không theo nghĩa quân
(5) Huỷ mệnh: Bỏ mạng, ý nói nghĩa quân đã xử tử tên phó quản này. Đây là tên phó quản ngục, không chịu mở cửa nhà giam để cho tù phạm tham gia khởi nghĩa.
(6) Nghĩa là giành lại nền độc lập cho nước Việt Nam.
(7) Cuộc khởi nghĩa đã giải phóng cho các tù nhân và đưa họ vào đội ngũ chống Pháp.
(8) Kỳ Nhu: Khúc khuỷu, quanh co, gồ ghề.
(9) Quân khởi nghĩa nổi lên, cắt đứt hết đường dây thép (điện thoại) làm cho địch không thể thông báo tin tức với nhau.
(10) Giao công: đánh nhau.
(11) ý nói bọn thực dân phong kiến họp bàn để đối phó với nghĩa quân.
(12) ông Sáu: một chức quan võ, tương đương với thiếu tướng.

(13) Đồn ông Chu Điền: thuộc xã Quan Chu, huyện Đại Từ, Thái Nguyên
(14) Tức quân của ông Đội Cấn
(15) Tức Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc)
(16) Chợ Vàng, Hoàng Xá thuộc huyệnVĩnh Tường, Vĩnh Phúc
(17Xã đoàn: một chức tương đương với Trương tuần

(18) Hướng Lại: có ga xe lửa hướng lại thuộc Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
(19) Giang Tiên: thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
(20) Đèo Khế, đèo Giàng, Hoàng Đờm thuộc Thái Nguyên 


Đội Cấn tên thật là Trịnh Văn Đạt, sinh năm 1881 trong một gia đình nông dân, quê xã Vũ Di (Vĩnh Tường). ông bị bắt đi tuyển lính thay cho anh trai. Từ đó ông mang tên người anh của mình là Trịnh Văn Cấn. Khi bị bắt đi lính ông đã tận mắt chứng kiến cảnh giặc Pháp đàn áp nhân dân ta và được nghe chuyện về gương các tướng quân lãnh đạo nhân dân nổi lên kháng Pháp. Khi đóng đồn binh ở Thái Nguyên ông được phong chức đội (hạ sĩ quan trong quân đội phong kiến thực dân, phụ trách chỉ huy một đơn vị nhỏ), vì vậy người đương thời gọi ông là Đội Cấn. Vốn sẵn lòng yêu nước, thương dân, ông muốn nối chí cha anh đánh đuổi kẻ thù giành độc lập tự do cho Tổ quốc. ông đã bí mật họp bàn với các ông Đội Giá, Đội Trường, ông Lương Ngọc Quyến (con trai nhà cách mạng Lương Văn Can), quyết định phất cờ khởi nghĩa. ông Đội Cấn được cử làm “Thái Nguyên quang phục quân đại đô đốc”.

Nghĩa quân chiếm lĩnh thị xã Thái Nguyên đêm 30-8-1917 (tức 13-7- Đinh Tỵ) và làm chủ được 5 ngày. Sau đó địch tập trung lực lượng bao vây, phản công lại. Nghĩa quân rút ra khỏi thành phố, anh dũng chiến đấu chống lại cuộc bao vây của địch. Đội Cấn cho quân vượt núi Tam Đảo sang Vĩnh Yên, định di chuyển dần về vùng Yên Lạc, Vĩnh Tường để củng cố lực lượng, sau đó vượt sông sang Sơn Tây, Hoà Bình. Nhưng quân Pháp phong toả ngặt nghèo, nghĩa quân đành cố thủ ở Thái Nguyên. Trong một trận quyết chiến diễn ra sáng 11-01-1918, thế cùng lực kiệt giữa vòng vây của giặc. Trịnh Văn Cấn, người anh hùng đã từng tuyên bố Thái Nguyên độc lập, đặt quốc hiệu là Đại Hùng, đã tự sát để khỏi rơi vào tay giặc, nêu tấm gương sáng ngời của một người anh hùng xả thân vì nước.

Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, nhưng đã trở thành mốc son đỏ thắm trong lịch sử dân tộc tiếp nối truyền thống yêu nước đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam ta. Bài vè trên đây đã phản ánh được phần nào sự thật về cuộc khởi nghĩa đó.

Vè Cô Giang

Kể từ quân Pháp sang đây
Hại người cướp của bấy nay đã nhiều
Dân tình đồ thán đủ điều
Căm gan tức chí phải liều ra tay
Anh hùng đã tỏ tài trai
Nữ nhi cũng chẳng kém loài bồng tang
Nhớ xưa phất ngọn cờ vàng
Bà Trưng, Bà Triệu chiến trường xông pha
Cai Vàng lại có bà Ba
Tây Sơn bà Phó cũng là anh thư (1)
Xúm tay xoay lại cơ đồ
Dân yên quốc thịnh phất cờ Việt Nam
Từ ngày quân Pháp kéo sang
Chợ Tràng cô Tám cũng gan anh hùng
Dưới trướng cụ Phan Đình Phùng
Bắt quân lính tập vào tròng trăm tên
Lại như vợ lẽ Đội Quyên
(2)
Nam trang cải dạng tìm lên núi rừng
Đúc súng đúc đạn, giúp chồng
Đánh cho quân pháp hãi hùng đảo điên
Bà Ba Đề Thám truân chuyên

Non sông đã trải mấy phen thác ghềnh
Hồng quần nhẹ bước rừng xanh
Trận tiền giáp chiến đao binh vẫy vùng
Hồng quần nhẹ bước thong dong
Chính bà cũng dự quân trung luận bàn
Bà Lang Seo mở ngôi hàng
Giả đò hương khói đèn nhang bấy chầy
Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây
Nghĩa Hưng đảng ấy nay ngày một to
Chuyện năm Canh Ngọ mới vừa
(3)
Việt Nam dân đảng bấy giờ lập ra
Chương trình định liệu gần xa
Trước là dân tộc sau ra đại đồng
Cô Giang cũng bực anh hùng
Dốc tâm thề Đảng một lòng trung trinh
Cùng ai thề chữ tử sinh
(4)
Chưa chăn gối cũng vẹn tình sắt son
Chia nhau việc Đảng lo tròn
Tài chính cổ động lại còn giao thông
Thất cơ sự đến khi cùng
Tím gan Yên Bái, đau lòng xiết bao
Thế gian mặc chuyện ra vào
Lòng chung xin nguyện trời cao soi cùng
Chàng theo nước, thiếp theo chồng
Tuồng khi dơ dáng sống cùng hôi tanh
Khen chê phó mặc sử sanh
Treo gương “đất nghĩa trời Kinh” đời đời. 

(1) Bà Phó ở đây là thiếu phó Bùi Thị Xuân, nữ tướng Tây Sơn.
(2) Đội Quyên quê Hà Tĩnh, nghĩa quân Phan Đình Phùng. Sau khi chủ tướng Phan Đình Phùng mất năm 1905 ông vẫn tiếp tục kháng Pháp và mất năm 1920.

(3) Năm 1930 năm Việt Nam quốc dân đảng khởi nghĩa ở Yên Bái.
(4) “Ai” đây là chỉ Nguyễn Thái Học, chồng của cô Giang.

Trong Từ điển những nhân vật lịch sử (NXB khoa học xã hội - Hà Nội 1992) có ghi rõ: Nguyễn Thị Giang, liệt sĩ cận đại, tục gọi là “Cô Giang”, vị hôn thê của Nguyễn Thái Học, quê ở
Phủ Lạng Thương tỉnh Bắc Giang.

Năm 1929, cô Giang gặp Nguyễn Thái Học, quê ở Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Yên, lúc đó đang là Chủ tịch Việt Nam quốc dân đảng. Hai người yêu nhau và Cô Giang trở thành người thân tín nhất của Nguyễn Thái Học. Cô từng tham gia tích cực vào việc tuyên truyền, liên lạc giữa các cơ sở Đảng ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên.
Sau cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân đảng thất bại, ngày 17/6/1930 Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của ông bị Pháp tử hình ở Yên Bái. Cô Giang đã bí mật đến tận pháp trường để chứng kiến cái chết anh dũng của chồng và các đồng chí. Ngay sau khi Nguyễn Thái Học lên máy chém, cô về nhà trọ viết hai bức thư (một gửi cha mẹ, một gửi hương hồn Nguyễn Thái Học) và một bài thơ tuyệt mệnh.

Bức thư gửi hương hồn Nguyễn Thái Học có đoạn:
“… Anh đã là người yêu nước, không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước. Anh giữ lấy linh hồn cao cả để về dưới suối vàng chiêu binh rèn súng đánh đuổi quân thù… Các bạn đồng chí còn sống phải phấn đấu thay anh để đánh đổ cường quyền và cứu đồng bao đau khổ”.
Cùng ngày, cô Giang mặc giả đàn ông, tìm về làng Thổ Tang vào thăm bố mẹ chồng. Tới đoạn đường giữa xóm Nội (Đại Đồng) với làng Giang (Thổ Tang) cô dùng súng lục tự sát. Trong túi áo để bài thơ tuyệt mệnh có đoạn:

Dẫu rằng chút phận thơ ngây
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên
Chết đi dạ những buồn phiền
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình
Quốc kỳ phấp phới trên thành
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.

Hội chợ Dưng
(Xã Tứ Trưng, Vĩnh Tường)
Tháng Giêng mồng sáu tiệc vui
Gần xa nô nức đến chơi tiệc này
Trên mũ áo sắp bày nghi vệ
Dưới nhà trò các nghệ giở ra
Bốn bề đào đỏ chanh chua
Đôi bên hàng xứ giãn ra đánh cờ
Trai tráng lực thi bơi thuyền ván
Gái đang thì đánh dún đu đôi
Trên cầu quan hội ngồi chơi
Dưới thời các vãi các nơi cúng giàng
Từ chợ cho chí trong làng
Tổ tôm sóc đĩa đánh tràn cung mây
Ngày thời đàn ngọt hát hay
Đêm thời chèo hát leo dây ầm ầm.

Chợ Dưng họp trước đình, trên một bãi rộng bên đầm Dưng. Chợ Dưng có đặc điểm là phiên chợ đầu tiên của một năm họp vào ngày mồng 6 tháng Giêng rất đông vui. Ngày ấy người ta đi chợ vừa để mua bán phẩm vật, hàng hoá, vừa để xem hội với nhiều trò vui: nấu cơm thi, đấu vật, bơi chải trên đầm, bắt trạch trong chum, xem hát…
Chợ Dưng họp phiên mồng 6 tháng giêng hấp dẫn đến mức còn có câu:
“Bỏ con bỏ cháu, không ai bỏ mồng sáu chợ Dưng”.

Hội Lăng Trưng
(Làng Lăng Trưng xã Tứ Trưng)
Lăng Trưng mở hội năm ngày
Hai giáp hai trại sánh bày hai bên
Một trại lý trưởng trông lên
Tân khách quí nghĩa (1) quân viên chơi bời
Tam quan tường mới xây rồi
Thử xem phong cảnh mấy nơi đã bằng

Thỉnh kinh thì tại chùa Dăm
Rước phật thì tại chùa Đồng nước anh
Rước nước thì tại Vực Xanh
Rước thánh về đình mới thực là vui
Trên thì trống đánh cờ người
Dưới thời cơm thi, lợn thả lúa xay ầm ầm
Người sang lấy lửa bên đầm
Người thì đánh cá người đâm bánh dầy
Người thì dò lụa khéo tay
Người pha đường bột, người hay xôi mùi
Người thì cầm đuốc cơm thi
Trống giục ba hồi thì tiến lễ lên
Ba dân (2) thưởng một quan tiền
Hai lễ để đấy, quan viên trông vào
Thiên hạ hàng xứ xôn xao
Rước nước thế ấy thật là lắm quan
Mong cho thóc lúa chan chan
Mong cho phú quý hai năm hội liền.

(1) Quý nghĩa: Chỉ các xã nước nghĩa, tức là các làng xã kết nghĩa với nhau. Hai là kết nghĩa thì người làng này gọi làng kia là nước anh và tự nhận là em. ở bài này là hai làng Văn Trưng và Thế Trưng.
(2) Ba dân: Là ba làng Lăng Trưng, Thế Trưng, Văn Trưng cùng thuộc về xã Tứ Trưng

Lễ hội dân gian luôn luôn là lời mời gọi thiết tha các bạn, khách xa gần. Một trong những lễ hội đáng nói đến ở Vĩnh Phúc là hội làng Lăng Trưng (Vĩnh Tường). Hội Lăng Trưng tổ chức từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 8 âm lịch. Trong 5 ngày hội ấy có rất nhiều hoạt động sôi nổi: dựng trại, rước nước, rước thánh, đánh cờ người, thi thả bắt lợn, bắt vịt, lấy lửa, đánh cá, đâm bánh dầy…
Mục đích của lễ hội là mong cho mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ.

Vè Thọ Lão

Anh nhớ Thọ Lão từ đây
Bên đông có giếng, bên tây có hồ
Giữa chợ có miếu thờ vua
Đôi bên nước chảy đò đưa dập dìu
Xưa kia còn có cầu Kiều
Cầu Kiều đổ nát anh chèo đò ngang
Muốn sang anh chẳng cho sang
Đò dọc vua cấm, đò ngang anh chẳng chèo.
(Thọ Lão là một thôn của xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh)


Khóc ngô, khóc chồng

Trên tay ôm đứa con thơ
Chị Năm (1) ngồi khóc lu loa giữa đồng
Khóc ngô thôi lại khóc chồng
Khóc ngô bị nhổ, khóc chồng đi phu
Chém cha lũ Nhật côn đồ
Bắt người cướp của tha hồ thẳng tay
Dân ta trăm đắng ngàn cay
Thóc ăn chẳng có trồng đay cho người
Đang mong ngô đỗ cho bông
Ai ngờ ngô bị nhổ tung đầy đồng
Nhìn ngô, nước mắt tuôn dòng
ôm ngô mà đứt cả lòng, ngô ơi!
Chém cha quân Nhật giết người
Mau mau đoàn kết trừ loài sói lang
Nào ngô có tội tình gì
Lệnh ra bắt nhổ giữa kỳ kéo tơ
Uổng công trồng cuốc be bờ
Uổng công con trẻ, cha già xới vun
Chém cha cái lũ giặc lùn (2)
Lúa bông đã cướp lại còn phá ngô…(3)
(Bài ca Việt Minh)

(1) Cụ lão niên xã Việt Thắng, Đông Anh (Trước đây thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, cũng biết bài này, nhưng lại đọc là chị Bảy. Đây có lẽ là sự thay đổi do truyền miệng.
(2) Giặc lùn: Chỉ giặc Nhật
(3) Có người ở xóm Sậu, Tích Sơn, Vĩnh Yên nói rằng bài này còn một đoạn nữa. Nhưng do tuổi già, cụ đọc câu được câu không. Chưa có điều kiện đối chiếu, chúng tôi chưa bổ sung vào đây.

Năm 1943, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ở những vùng chiếm đóng, chúng cướp thóc lúa của dân ta để làm chất đốt thay cho than dùng chạy máy móc, tàu xe. Ngoài đồng, chúng bắt dân ta phá ngô, nhổ lúa trồng đay cho chúng lấy nguyên liệu phục vụ chiến tranh. Tổ chức Việt Minh của ta đã vận động nhân dân các địa phương chống lại hành động tàn ác này của quân Nhật.

Ở nhiều nơi, những bài vè, bài diễn ca như kiểu bài trên liên tục xuất hiện. Bài này chúng tôi ghi lại theo lời kể của một cụ lão niên ở Tân Cương, Vĩnh Tường.
Năm 1943, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ở những vùng chiếm đóng, chúng cướp thóc lúa của dân ta để làm chất đốt thay cho than dùng chạy máy móc, tàu xe. Ngoài đồng, chúng bắt dân ta phá ngô, nhổ lúa trồng đay cho chúng lấy nguyên liệu phục vụ chiến tranh. Tổ chức Việt Minh của ta đã vận động nhân dân các địa phương chống lại hành động tàn ác này của quân Nhật. Ở nhiều nơi, những bài vè, bài diễn ca như kiểu bài trên liên tục xuất hiện. Bài này chúng tôi ghi lại theo lời kể của một cụ lão niên ở Tân Cương, Vĩnh Tường.

Nhắn chị cùng em

Bao giờ đuổi được Nhật Tây
Cho em được sống những ngày ấm no
Cực thân em đẩy xe bò
Nuôi phường giặc nước ôtô nhà lầu
áo em chiếu cói mo cau
áo phường giặc nước toàn màu tơ len
Ai về nhắn chị cùng em
Có đi giết giặc cho em theo cùng.
(Bài ca Việt Minh)

Lên đường

Sưu cao thuế nặng nghèo hèn
Lấy gì mà phấn răng đen hỡi chàng
Chàng ơi đưa súng thiếp mang
Đưa gươm thiếp cắp lên đàng đi thôi
Đánh Tây đuổi Nhật đi rồi
An Nam ta lại với người An Nam.

Hai bài trên, theo cụ Tàm, chủ một gia đình cơ sở cách mạng ở thôn Phú Trưng, xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường) đã được đồng chí Khuất Thị Vĩnh (Bảy Vĩnh) cán bộ trung ương trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Vĩnh Tường đọc cho nghe, dặn học thuộc và tiếp tục truyền đọc cho các chị em khác

Đòi chồng

Nước non xa cách nghìn trùng
Ai gây chiến họa bắt chồng ta đi
Chồng ta vào khốn ra nguy
Nằm sương gối đất còn chi là đời
Mưa bom bão đạn bời bời
Chẳng qua chỉ một nhóm người nên công
Tiếng kêu như xé cõi lòng
Có ai bắt chúng trả chồng ta đây
(Theo tài liệu của ông Nguyễn Khắc Xương)

Một bài diễn ca xuất hiện ở Thổ Tang
sau Cách mạng tháng Tám

Ngôi sao vàng sáng soi đất Việt
Vừng hồng mây đỏ rực trời Nam
Quốc dân tỉnh giấc mơ màng
Dựng cờ độc lập mở mang nước nhà
ơn cụ Hồ xông pha hải ngoại
Bước chân về kêu gọi khắp nơi
Thượng trung du cụ tuyên truyền đã khắp
Cụ quyết một lòng xây đắp tương lai
Muôn dân nức tiếng anh tài
Được ngày khởi nghĩa chen vai anh hùng
Quân tàn bạo còn dung chi nữa
Đất muôn năm gột rửa quân thù
Mười chín dương lịch đầu thu
ất Dậu khởi nghĩa quân thù phá tan
Dựng dân chủ mở mang lừng lẫy
Cõi á Đông gìn giữ sơn hà
Nhời vàng cụ đã truyền ra
Chúc dân NamViệt âu ca thái bình.

Theo nhóm biên soạn sách Lịch sử đảng bộ xã Thổ Tang, thời kỳ sau cách mạng tháng tám ở Thổ Tang rất nhiều người thuộc bài này. Hôm mở đầu tuần lễ vàng có một cụ bà vừa đọc bài ca trên vừa tự tháo đôi khuyên tai ra để ủng hộ. Một số cụ già ở địa phương nói rằng bài ca trên do mọ Sơn Bìm ở xóm Lá Sen khởi thảo.

Trở lên là những bài vè, bài diễn ca đã được đối chiếu, chỉnh lý kỹ lưỡng. Phần tiếp theo chúng tôi xin trích một số đoạn rút trong các bài vè trước đây từng lưu hành ở các huyện Bình Xuyên, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc và khu vực Bạch Hạc. Những đoạn trích dưới đây là những đoạn nhiều người kể giống nhau, còn những đoạn khác nhau hoặc chắp vá từ các bài khác (không cùng chủ đề) chúng tôi sẽ tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu, và sẽ công bố tiếp vào dịp tái bản bộ sách này.
Bài vè về Đô thống Đỗ Đình Thuật, chủ ấp Tam Lộng xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên, có đoạn:

An Nam lắm chủ đồn điền
Có tên Đô thống ngồi quyền quản công
Có cai, có ký làm công
Người nào có chữ làm ông xếp đồn

Bài vè về tên Nguyễn Hữu Cự, một mình chiếm 12 ấp ở hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên:

Mười hai đồn ấy đều sang
Có tên chủ Cự vào làng với Tây
Mụ vợ ăn mặc dở thay
Mua được cái nón lại may nón đầm…
… Vợ cả cầm két Vĩnh An
Vợ hai thì ở Lưu Quang, Quang Hà
Quang Hà lại có vợ ba
Vợ tư Cổ Độ, năm là Bảo Sơn
Đồn nào mà lúa tốt hơn
Nhờ lộc cô ấy, đội ơn ông trời
Lập bày như thể chia ngôi
Cậu trưởng hắn bắt vào ngồi Quảng Khai
Miêu Duệ đã có vợ hai
Còn năm ấp xếp để cai ký quyền…

(Trích)

Bài vè vỡ đê Đại Định (Vĩnh Tường)

Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường
Cả ba huyện ấy nhiều đường đắng cay
Càng trị, nước lại càng đầy
Vỡ đê Đại Định giữa ngày ba mươi
Quan thời tế ngựa chạy xuôi
Dân phu tản tác mỗi người mỗi phương
Người thì vất vưởng giữa đường
Người thì lưu lạc biết nương chốn nào?
Một đêm nước chảy tuôn trào
Chỗ thấp cũng đến, chỗ cao cũng lỳ
Chỗ thì thối mất mạ đi
Chỗ thị thối lúa, chỗ thì thối khoai…
(Trích)

Phần cuối của chương này, chúng tôi xin giới thiệu bài vè của ông Nguyễn Văn Cường ở thôn Thượng xã Tuân Chính (Vĩnh Tường). ông Cường là người sáng tác ca dao và thuộc rất nhiều truyện cổ, giai thoại, sự tích về các danh tướng, danh thần ở Vĩnh Phúc. Đặc biệt khi kể cho chúng tôi nghe, ông Cường ít khi kể bằng lời xuôi, mà thường kể vè, kể bằng văn vần do chính ông sáng tác. Đây cũng là đặc thù của văn học dân gian, văn hoá của người lao động, khi chưa có chữ viết thì sáng tác, lưu truyền bằng miệng. Khi có chữ viết rồi, văn hoá dân gian vẫn không mất đi, mà vẫn tồn tại ở dạng này, dạng khác. Xét thấy một số bài của ông Cường thể hiện rõ sắc thái văn hoá dân gian, nội dung lại chứa đựng những câu chuyện cổ, những nhân vật, những giai thoại đặc sắc của làng quê Vĩnh Phúc, chúng tôi mạnh dạn giới thiệu để bạn đọc rộng đường trao đổi.


Tìm ông Tổng Cóc chồng bà Xuân Hương

Tôi về thăm xã Phú Đa (1)
Tìm ông Tổng Cóc chồng bà Xuân Hương
Nắng chiều cuối bãi còn vương
Lúa xanh gợn sóng bức tường đê ngăn
Phú Đa chia làm hai phần
Nửa dân ngoài bãi, nửa dân trong đồng
Trong đê xóm nhỏ đi vòng
Bờ tre, bụi duối uốn cong úp thìa
Khu vườn ổi, mít xum xuê
Năm gian nhà ngói ngoảnh về hướng đông
Giữa nhà kê bộ sa lông
Tivi, cát xét, nê ông bóng đèn
Phân định chủ khách hai bên
Mùa màng thăm hỏi chuyện thêm mặn nồng
Chuyện ông Tổng Cóc có không?
Bên ấm trà đậm cụ Long tâm tình:
Cụ tổ bảy đời sinh thành
ông Cóc họ Nguyễn vốn ngành nhà tôi
Chuyện rằng: từ thuở thiếu thời
Một buổi Cóc dủi (2) ở ngoài bãi sông
Trưa về qua chốn đình trung
Thấy ban hội đồng bàn mãi không xong
Có một xác chết trôi sông
Dạt vào trong bãi nằm cong ghê người
Báo quan sợ hạch lôi thôi
Chôn đi sợ giác giết người cũng gay
Bóng chiều đã ngả về tây
Các cụ đang định bó tay ra về
Hè đình điếu thuốc đang vê
Cóc bẩm: Các cụ lo gì, để con
Hội đồng đang lúc đói mòm:
- Không xong thì liệu ăn đòn nhừ xương!
Màn đêm hôm ấy vừa buông
Cóc kéo xác chết lăn tòm xuống sông
Rồi lùa ra tận giữa dòng
Trôi xuôi, dân sự trong lòng hết lo
Kể từ việc ấy nguyên do
Chức trương tuần phụ dân cho Cóc làm
Thấy Cóc chăm chỉ việc làng
Mưu mẹo, đối đáp với quan cũng tài
Lại việc tranh bãi đất bồi
Một đêm chuyển được năm mươi nóc nhà
Có cây, có quả, có hoa
Có cổng, có ngõ thực là xóm quê
Được đất dân làng hả hê
Cóc làm phó lý thu bề thuế sưu
Chỉ vì gia sản quá nghèo
Họ hàng góp ruộng vì yêu Cóc tài
Từ đây Cóc được sánh vai
Vào hàng hương lý trổ tài khéo khôn
Sóng đời danh lợi dập dồn
Lý trưởng, Chánh tổng Cóc vươn lên dần
Nắng chiều đã tắt ngoài sân
Cụ Long hứa sẽ dần dần cấp thêm
Tìm trong tộc phả lưu truyền
Và trong giai thoại còn nguyên ở làng
Có phải đích thực là chàng
Mà Xuân Hương khóc bẽ bàng đứt đuôi (3)
Hay nàng chỉ khóc hộ ai
Như vợ Tổng Cóc là người bạn thân
Vân vân, bao chuyện vân vân
Không sao lý giải ngoài tầm sức tôi
Vì vốn Hán ngữ rất tồi
Phiên dịch, tra cứu nhờ ai bây giờ
Đành chờ! Sốt ruột đành chờ
Kính mong học giả lần mò tìm thêm
Vì trong vốn cũ còn nguyên
Khẳng định danh bất hư truyền câu ca:
- Vĩnh Tường có xã Phú Đa
Có ông Tổng Cóc chồng bà Xuân Hương.

1) Xã Phú Đa thuộc huyện Vĩnh Tường

(2) Dủi: còn gọi là dậm dủi, một dụng cụ đánh bắt tôm cá dưới nước


(3) Trong bài thơ Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương có câu: “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé!”

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ lớn của Việt Nam. Bà sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. Bà có từng sống ở Vĩnh Tường và kết duyên với ông Phủ Vĩnh Tường hay không, hiện nay còn là vấn đề tranh cãi. Nhưng bài thơ Khóc ông Phủ Vĩnh Tường thì vẫn tồn tại hàng trăm năm nay.

Trong cuộc đời tài tình nhưng nhiều lận đận của bà, có đoạn nào bà bén duyên ông Tổng Cóc hay không, ông Tổng Cóc là người có thật không, cũng lại là vấn đề còn tốn nhiều giấy mực. Nhưng bài thơ Khóc Tổng Cóc thì cũng vẫn còn đó, trong hành trang thơ của Hồ Xuân Hương.

ông Tổng Cóc quê quán nơi đâu cũng là vấn đề nan giải. Người bảo ông ở Thái Bình, Nam Định. Người lại đoán chắc ông ở vùng Kinh Bắc người bảo ông cũng có tí chữ nghĩa, đi thi không đỗ. Có người lại khẳng định ông là một cố nông, không biết chữ nhất bẻ đôi.

Mới đây trên tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn có viết rằng ông Tổng Cóc quê ở Lâm Thao, Phú Thọ. Tác giả cũng giới thiệu tộc phả, con cháu hiện vẫn còn.

Người dân xã Phú Đa, huyện Vĩnh Tường thì lại khẳng định Tổng Cóc chính là người xã mình. Đúng sai thế nào xin để các nhà nghiên cứu kết luận. ở đây, chúng tôi chỉ nói thêm: Ly sở Phủ Vĩnh Tường đã từng có thời kỳ đặt ở Văn Trưng, thuộc xã Tứ Trưng ngày nay. Tứ Trưng và Phú Đa liền kề nhau, vậy nữ sĩ Xuân Hương khi là bà Phủ Vĩnh Tường có biết Tổng Cóc cũng là điều dễ chấp nhận?

Về đầu trang

 


Các tin đã đưa:
Tháp Bình Sơn
Tây Thiên Đền Hai Bà Trưng
Tìm hiểu văn hoá
Tin tức - sự kiên
Doanh nghiệp
Công nghiệp Doanh nghiệp trẻ
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Trang thông tin điện tử Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Cơ quan chủ quản: Sở văn hóa,Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Địa chỉ: Số 2 đường Hai Bà Trưng - phường Đống Đa - TP Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
ĐT:0211.3862.505 * Fax:0211.3847.773 * Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn * Tổng biên tập: Trần Văn Quang
Giấy phép số: 13/GP-TTĐT ngày: 31/01/2013 của Cục Quản lý Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử