www.vhttdlvinhphuc.vn

 
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch *Số 2 đường Hai Bà Trưng *phường Đống Đa *TP Vĩnh Yên *tỉnh Vĩnh Phúc  *ĐT:0211.3862.505 *Fax: 3847.773 *Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn
 
Giới thiệu
Văn bản - Thủ tục HC
Vùng đất - Con người
Du lich
Thể thao
Văn hóa, Thể thao cơ sở
Tạp chí VH Vĩnh Phúc
Ý kiến đóng góp
Sách hay Vĩnh Phúc
Tam Đảo - Di sản văn hoá và tiềm năng du lịch
Danh mục tin
Tìm kiếm
 

Liên kết Website
Đối tác
Công ty cổ phần Mạng Trực Tuyến META Công ty TNHH Mặt Trời Vàng
Số người truy cập
Bạn là người thứ: 530074
Đang truy cập: 69
Mỹ thuật dân gian (28/04/2008 09:55)

Mỹ thuật dân gian

Trong trường kỳ lịch sử, cha ông chúng ta có rất ít thời gian yên ổn, chẳng những phải liên tục chống đủ mọi thứ thiên tai, mà còn phải thường xuyên chống ngoại xâm. Thế nhưng, ngay trong quá trình chống thiên tai địch hoạ đã phải tranh thủ làm văn hoá, chắt chiu từng khoảng thời gian hoà bình ổn định ngắn ngủi để dựng nước. Chính trong hoàn cảnh sống chồng chất khó khăn ấy, mọi người lại càng quý cái đẹp, luôn sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật tạo hình để làm đẹp cho đời, và phú cho mọi đồ vật thường ngày một giá trị thẩm mỹ, để cùng với giá trị thực dụng giành được sự nâng niu của mọi người thuộc mọi thế hệ. Chính nhờ đấy mà ngày nay chúng ta có một kho tàng mỹ thuật dân gian truyền thống đặc sắc và phong phú.

Mỹ thuật cổ Việt Nam có chương đầu từ vạn năm trước ở hang Đồng Nội, ở núi Đọ Thanh Hoá, có đỉnh đầu từ Văn hoá Đông Sơn khoảng 2500 năm trước, có sự phát triển liên tục từ nghìn năm lại đây. Nền mỹ thuật ấy có phải là mỹ thuật dân gian không, có phải là Phônclo nghệ thuật tạo hình không? Nếu theo nguyên nghĩa folklore trong tiếng Anh là trí tuệ (lore) của dân gian (folk), thì folklore trong nghệ thuật tạo hình cổ Việt Nam sẽ bao gồm tất cả những sáng tạo của nhân dân Việt Nam về kiến trúc, về tượng, về tranh, về trang trí, về đồ mỹ nghệ. ở xã hội tiền sử và sơ sử, có thể xem văn hoá nguyên thuỷ là văn hoá dân gian thì mỹ thuật giai đoạn lịch sử ấy chính là cội nguồn của mỹ thuật dân gian. Nó sẽ được bảo lưu trong mỹ thuật ở các giai đoạn sau. Nhất là ở Việt Nam cho đến mãi gần đây, thậm chí cả ngày nay vẫn cơ bản là xã hội nông nghiệp kỹ thuật cũ chưa có cơ giới, thì sự bảo lưu ấy khá vững chắc.

Ngược dòng lịch sử về giai đoạn xa xưa chắc ít người nghi ngờ. Nhưng nghìn năm gần đây thì sao. Nhà nước quân tự chủ Việt Nam được xác lập thế kỷ X, song trong 10 thế kỷ tiếp theo đó sức sản xuất còn rất thấp kém, sự phân hoá giai cấp còn rất chậm chạp, các hạng người có phân ra làm “tứ dân” (sĩ - nông - công - thương) song cơ bản vẫn gắn với nông thôn và mang theo tâm lý nông dân. Những người nông dân ấy từ xa xưa đã có một tín ngỡng dân dã của mình, kế đó lại tiếp nhận đạo Phật (bằng con đường tự giác) và bức nhận đạo Nho (bằng con đường cưỡng chế). Suốt 5 thế kỷ đầu của thời độc lập, nền quân chủ Phật giáo đã duy trì được một truyền thống dân chủ và một tình cảm từ bi bác ái trong xã hội, tạo sức mạnh đoàn kết toàn dân để đánh thắng hai lần xâm lược của quân Tống và ba lần xâm lược của quân Nguyên Mông. Nhà nước cùng nhân dân xây dựng nên nhiều ngôi chùa nổi tiếng mà dấu tích còn lại đến ngày nay là những giá trị thẩm mỹ tổng hợp cả về kiến trúc, điêu khắc và trang trí, đáp ứng yêu cầu cái đẹp của cả tầng lớp quí tộc ở triều đình và nhân dân lao động. Đó là những ngôi chùa thời Lý và thời Trần. Năm thế kỷ tiếp nối với nền quân chủ Nho giáo thành lập sau chiến thắng 20 năm xâm lược và đô hộ của quân Minh với âm mưu Hán hoá văn hoá Việt Nam không xong. Nhưng rồi nhà nước Lê sơ với mô hình chính trị phỏng theo phương Bắc, với ý thức Nho giáo ngày càng chi phối xã hội để xác lập một kỷ cương thống trị theo hướng chuyên chính, đề cao vương quyền, vượt lên thần quyền, nhằm xây dựng một nền văn hoá chính thống, cung đình, bác học... thì ở làng xóm với những “lệ làng” vừa gắn với “luật nước” lại vừa trườn khỏi “luật nước” đã hướng người lao động ở nông thôn phát triển mạnh hơn cái hướng bình dân của mỹ thuật đã nảy sinh ở cuối thời Trần. Thế kỷ XIX với sự thống nhất chặt chẽ của đất nước, với nền chuyên chế Nho giáo được phục hồi và củng cố, văn hoá chính thống cung đình có điều kiện phát triển. Nhưng, đồng thời ở nông thôn cũng ổn định dần một nếp sống văn hoá với những phong tục đẹp, với những hội lễ. Và tiếp đó, với sự xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, một mặt nhân dân quay về với văn hoá của mình để tìm sức mạnh ở cội nguồn, mặt khác thủ công mỹ nghệ có điều kiện phát triển khá mạnh, mỹ thuật dân gian cùng với hoạt động văn hoá dân gian tạo thành một tổng hoà văn hoá xã hội của dân tộc.

Nằm trong tổng thể nền mỹ thuật dân tộc, mỹ thuật dân gian Vĩnh Phúc cũng được bắt nguồn từ mỹ thuật thời Hùng Vương mà đỉnh cao là Đông Sơn.
Đó là một nền nghệ thuật cổ đại mang hoàn toàn tính bản địa được chung đúc hàng nghìn năm, nó trực tiếp soi sáng cho các giai đoạn nghệ thuật sau này.

Mỹ thuật thời Hùng Vương
Thời Hùng Vương có thể tính từ khi manh nha Nhà nước Văn Lang đến khi nước âu Lạc của Thục An Dương Vương bị Triệu Đà xâm lược, tức là vào khoảng 2000 năm.
Suốt 2000 năm đó, dân tộc ta không những đoàn kết đùm bọc thương yêu nhau, đấu tranh cải tạo thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm mà còn sáng tạo ra một nền nghệ thuật độc đáo. Trên địa bàn Vĩnh Phúc chúng ta đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ tương ứng với 4 giai đoạn văn hoá: Sơn Vi (có ở gò Trâm Dài xã Đôn Nhân, ở Gò Đồn xã Hải Lựu), Phùng Nguyên (có ở Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh, Bình Xuyên, Tam Dương), Đồng Đậu, Gò Mun (có ở Yên Lạc, Mê Linh), Đông Sơn (có ở Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Lập Thạch).
Hiện vật được phát hiện trên đất Vĩnh Phúc gồm hàng nghìn thứ bằng đá, bằng đồng, bằng gốm khá phong phú. ở các chất liệu này, người nghệ sĩ dân gian đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật cả về mỹ thuật tạo dáng, về tính thực dụng và về tư duy biểu tượng bằng những hình vẽ, đường nét trang trí cách điệu rất cao.
Sau đây, chúng ta lần lượt tìm hiểu mỹ thuật thời Hùng Vương từ kỹ thuật chế tác đồ đá, làm đồ gốm, đúc đồng, đến mỹ thuật trang trí, vẽ hình, tạo dáng, điêu khắc.

Kỹ thuật chế tác đồ đá
Kỹ thuật chế tác đồ đá đã có từ thời kỳ văn hoá Sơn Vi tức văn hoá đồ đá cũ (hay đồ đá đẽo), nghĩa là có trước thời Hùng Vương hàng vạn năm. Năm 1983 rồi năm 2000, các nhà nghiên cứu đã tìm được ở Gò Đồn (xã Hải Lựu, Lập Thạch) những công cụ cuội ghè đẽo rất đẹp, những công cụ chặt rìa lưỡi dọc được làm từ cuội quarzit.
Đến đầu thời đại Hùng Vương, tức văn hoá Phùng Nguyên, kỹ thuật đồ đá mới đạt đến đỉnh cao, điêu luyện và tinh xảo. Riêng những di chỉ đá tìm thấy ở khu di chỉ Đồng Đậu thuộc Đông Hai, xã Minh Tân huyện Yên Lạc (nay là thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc) đã rất phong phú, đa dạng: rìu, bôn, đục bàn mài, khuôn, vòng, hoa tai, tên... Bảo tàng Vĩnh Phúc hiện đang lưu giữ và trưng bày gần 100 tiêu bản hiện vật về đồ trang sức của con người thời tiền sử, chủ yếu là đồ trang sức bằng đá.
Về loại hình, người Đồng Đậu đã biết dùng các đồ trang sức: vòng, tai, nhẫn, hạt chuỗi (nếu xâu thành xâu có thể là vòng trang sức đeo cổ, đeo tay, khuyên tai). Nếu so sánh với các loại đồ trang sức thông dụng mà con người hiện đại dùng ngày nay, thì tổ tiên ta xưa khoảng 3000 - 4000 trước cũng đã biết làm ra và sử dụng, tuy chỉ khác nhau về chất liệu. Ngày nay đồ trang sức chủ yếu được làm từ ngọc và kim loại quí như vàng, bạc... thì xưa chủ yếu là dùng đá.

Về kiểu dáng, vòng tay (chiếm số lượng nhiều nhất) gồm các kiểu có mặt cắt ngang hình chữ nhật dẹt, hình chữ D. Nhẫn mặt cắt hình bầu dục. Hạt chuỗi đều có hình ống. Nhìn chung mỗi loại hình đồ trang sức đều có kiểu dáng, kích cỡ phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng để tạo nên vẻ đẹp tổng thể nhưng cũng rất hài hoà cho người dùng.
Về kỹ thuật chế tác đã đạt độ tinh vi. Sau khi chọn được nguyên liệu phù hợp, người thợ đá tiến hành đục, đẽo, gọt, mài tạo thành phác vật (tạo hình dáng đồ trang sức định làm). Từ phác vật họ dùng phương pháp khoan tách lõi tuỳ theo loại trang sức mà khoan loại lỗ to, nhỏ, độ dày mỏng khác nhau theo ý muốn. Khi tách bỏ được phần lõi thì hình dáng của đồ trang sức đã được định hình, sau đó họ mài nhẵn các bề mặt, rìa cạnh, cuối cùng đánh bóng, đồ trang sức được hoàn chỉnh.

Nhà sử học Hà Văn Tấn cho biết rằng khuyên tai đá thời kỳ văn hoá Phùng Nguyên là nguồn gốc của loại khuyên có mấu ở Đông Nam á. Và theo ông: “...Chúng ta có thể nhận định rằng Việt Nam là quê hương của khuyên tai có mấu. Vinh dự sáng tạo kiểu khuyên tai độc đáo này thuộc về những người thợ đá tài năng - chủ nhân văn hoá Phùng Nguyên” (*)
(*) Khảo cổ học - số 15/1974 - trang 19.

Làm đồ gốm
Khi nền sản xuất nông nghiệp phát triển, năng suất tăng lên, con người đã có của ăn của để và cần có những đồ dùng nấu nướng thức ăn và chứa đựng những khẩu phần dư dật... Trên cơ sở đó nghề nặn gốm ra đời. Trong các di chỉ giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên có nhiều mẫu vật, thuộc nhiều chủng loại, chứng tỏ đồ gốm đã phát triển tương đối phong phú bao gồm các loại đồ đựng và đồ nấu như: bát, đĩa, nồi, bình, vò, chậu v.v... Những đồ dùng này được tạo ra bằng kỹ thuật sử dụng bàn xoay, kiểu dáng đẹp, cân đối, hài hoà, với độ nung tương đối cao. Đến giai đoạn Đông Sơn, đồ gốm đã được nung tới hàng nghìn độ và rất cứng. Điều đáng chú ý là những hoa văn trên gốm ở giai đoạn Phùng Nguyên như hình tròn đồng tâm, hoa văn chữ S, tam giác, đường thẳng song song và tính đối xứng... đều được tôn trọng và nâng cao ở giai đoạn đồ đồng. Đó là sự chuyển tiếp có ý thức thẩm mỹ mang tính qui luật của sự phát triển từ thấp lên cao.

Những năm gần đây, kết quả khai quật khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu (Yên Lạc) lại cho thấy thêm nhiều điều về kỹ thuật làm đồ gốm. Kể từ khi phát hiện (tháng 2/1962) đến nay, di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu đã 6 lần khai quật. Kết quả các lần khai quật đều khẳng định di chỉ Đồng Đậu bao gồm 3 giai đoạn văn hoá phát triển liên tục kế tiếp nhau: Lớp dưới cùng thuộc giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, lớp giữa thuộc văn hoá Đồng Đậu, lớp trên cùng thuộc giai đoạn văn hoá Gò Mun. Cả ba giai đoạn đều có những di chỉ gốm.

Đồ gốm ở tầng văn hoá Phùng Nguyên được chế tác bằng bàn xoay, là loại gốm thô, xương gốm đen, phía ngoài phủ một lớp áo gốm mỏng màu hồng nhạt. Chất liệu gốm chủ yếu bằng đất sét có pha thêm tỷ lệ nhất định cát mịn làm cho đất bớt dính khi tạo hình và không biến dạng khi nung đất. Hoa văn trang trí gồm nhiều loại: vặn thừng, vặn chải, vặn chổ lỗ, khắc vạch chấm giải tạo thành những đồ án hoa văn sinh động.
Đồ gốm ở tầng văn hoá Đồng Đậu, về chất lượng, kiểu dáng và hoa văn trang trí có khác giai đoạn trước. Gốm thô giảm đi, gốm mịn tăng thêm, độ nung cao, gốm chắc, dày, có nhiều đồ đựng kích thước lớn. Hoa văn khắc vạch chấm giải đặc trưng của giai đoạn trước nay không còn, mà phổ biến là loại hoa văn kiểu khuông nhạc nhiều răng, chải thành các đồ án làn sóng, hình chữ S nối đuôi nhau, hình số 8, hình thừng bện. Hoa văn không những trang trí bên thân mà còn được trang trí cả phía trong thành miệng.
Đến tầng văn hoá Gò Mun (tầng trên cùng ở khu di chỉ Đồng Đậu), gốm đã có độ nung cao, gốm dày, cứng màu xám. Chất liệu vẫn là đất sét pha cát nhưng ở đây hạt cát được pha nhiều hơn, có khi lẫn sỏi. Vì vậy xương gốm thô, bên ngoài phủ một lớp áo mỏng, hoa văn trang trí chủ yếu là khắc vạch hình kỷ hà kết hợp với chấm giải, chấm tròn.

Đến giai đoạn Đông Sơn thì gốm hoàn toàn mang tính thực dụng, độ nung cao nên cứng khoẻ, dáng thấp, thành dầy, ít trang trí hoặc để trơn (những di vật gốm đào được ở Bình Xuyên, Yên Lạc chủ yếu là gốm thô, gốm trắng mốc kiểu Đường Cồ). Điều đó dễ hiểu. Bởi vì ở giai đoạn này, người Văn Lang chủ yếu tập trung vào trang trí trên đồ đồng.

Đúc đồ đồng
Tìm ra quặng đồng, biết luyện hợp kim đồng thau, đúc được các đồ đồng có kỹ thuật cao, có trang trí đẹp... là những thành tựu nổi bật của người thời Hùng Vương. Trên cơ sở đồ đồng, tổ tiên ta đã xây dựng một nền văn minh rực rỡ, nền văn minh nước Văn Lang mà đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn. Trên đất Vĩnh Phúc đã tìm thấy nhiều đồ đồng phản ánh nền văn hoá ấy như dao đồng, trống đồng ở Bình Xuyên; rìu đồng, xoè cân ở Yên Lạc; giáo đồng ở Vĩnh Tường; rìu đồng, trống đồng ở Lập Thạch... Đặc biệt bộ sưu tập đồ đồng văn hoá Đông Sơn ở Đồng Đậu là phong phú nhất, gồm 14 hiện vật còn nguyên vẹn. Trong đó có chiếc rìu xéo gót vuông lớn nhất thuộc loại rìu hình hia, rìu lưỡi thẳng, sống lưỡi hơi lõm xuống, mũi hất lên, gót vuông, vai hơi uốn cong xuống, họng tra cán thẳng hình lục lăng. Rìu không trang trí hoa văn, chỉ có một đường gò nổi chạy ngang họng.

Gia đoạn Phùng Nguyên là thời kỳ sơ khai của kỹ nghệ đúc đồng. Sang giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun rồi Đông Sơn mới thấy phổ biến các loại công cụ đồng, kỹ thuật luyện đúc ngày càng tiến bộ. Thành phần hợp kim lúc đầu là đồng thiếc, sau đó là đồng - thiếc - silic (hay phốt pho), và đến giai đoạn Đông Sơn thì hợp kim là đồng - chì - thiếc. Hợp kim này phù hợp nhất với việc đúc đồ đồng, vì nó có độ cứng vừa phải khiến cho vật đúc vừa đảm bảo được độ bền, vừa mịn đẹp, hiện lên được rất rõ chi tiết các hoa văn.

Kỹ thuật trang trí
Một trong những điểm nổi bật của đồ đồng thời Hùng Vương là sự trang trí hoa văn. Đại đa số các công cụ đồng thời kỳ này đều được trang trí bằng các loại hoạ tiết rất sinh động, phong phú. Đó là các hoa văn hình học hình người, hình thú vật, cảnh sinh hoạt xã hội v.v... thể hiện bằng những đường nét rất tinh tế, hợp lý có tính nghệ thuật cao.

Trang trí trên đồ đồng Đông Sơn đã tiến bộ vượt bậc và đạt đến đỉnh cao rạng rỡ của văn hoá đồ đồng. Hoa văn trang trí trên đồ đồng được bố cục một cách chặt chẽ hài hoà phù hợp với kiểu dáng đồ vật, nghĩa là những kết cấu, tổ hợp các hình trang trí rất ăn nhập với hình dáng bên ngoài của đồ vật làm cho đồ vật ấy thêm sinh động. Đặc biệt là trống đồng được trang trí hết sức phong phú. Có thể nói, đó là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Văn Lang, là bản tổng hợp ghi lại đầy đủ những tri thức, những quan niệm và những mối quan hệ của người thời cổ.

Ở Vĩnh Phúc, đến nay đã phát hiện được 2 chiếc trống đồng Đông Sơn. Chiếc thứ nhất tìm thấy ở xã Minh Quang (Bình Xuyên) năm 1999, trong khi nhân dân đào mương làm thuỷ lợi. Trống này gọi là Trống đồng Minh Quang. Chiếc thứ hai đào được ở xã Đạo Trù (Lập Thạch nay thuộc huyện Tam Đảo) đầu năm 2000. Chiếc này gọi là Trống đồng Đạo Trù. Cả hai chiếc trống này đều thuộc nhóm Hê gơ I. Trống đồng Đạo Trù tang phình, thân hình nón. Mặt trống rộng 47 cm, chân trống rộng 46cm, cao 31 cm, trong đó tang cao 11 cm, thân cao l1cm, chân cao 9 cm. Mặt trống hơi chờm ra khỏi tang 0,5 cm. Trống có 2 đôi quai trong, mỗi đôi 2 quai cách nhau 6 cm, bản quai rộng 2,5 cm.

Mặt, tang, thân và chân trống đều được trang trí hoa văn. Giữa mặt trống là hình mặt trời 12 tia nhọn, xen giữa các tia là hoạ tiết hình lông công biến điệu. Bao quanh ngôi sao có 11 vành hoa văn. Vành 1, 4, 8 và 11 là vành hoa văn vạch ngăn song song thường được gọi là văn răng lược. Vành 2, 3, 9 và 10 là các vành hoa văn vòng tròn kép đồng tâm. Vành 5 là vành hoa văn ô trám kép biến thể nối tiếp nhau. Vành 6 hoa văn bị mờ nhìn không rõ, có thể là hoa văn hình người múa hoá trang biến thể cách điệu cao, thường gọi là văn cờ bay. Vành 7 có 8 con chim mỏ dài đang bay, cánh xoè rộng, xen kẽ có 8 hình trâm chia thành nhóm, 2 chiếc một, cách đều nhau. Trên rìa mặt trống có 4 tượng cóc đứng ngược chiều kim đồng hồ. Giữa tang trống có một băng hoa văn gồm 4 vành, 2 vành giữa là vòng tròn kép đồng tâm, 2 vành hai bên là văn vạch ngắn kiểu răng lược.

Giữa thân trống cũng có một băng hoa văn, gồm 4 vành hoa băng giống như tang trống. Nối liền 2 băng hoa văn giữa tang trống và thân trống là những ô hoa văn trang trí dọc. Những ô hoa văn này cũng được trang trí thành nhóm 4 ô một trang trí giống hoa văn ở tang và thân trống, 2 ô giữa là văn vòng tròn kép đồng tâm, 2 ô hai bên là văn răng lược. Chân trống hơi choãi ra, ranh giới giữa thân và chân trống không rõ ràng, chỉ có một đường gờ nổi. Chân trống được trang trí hoa văn hình tam giác, có 3 lớp, giữa có vòng tròn, nhìn qua giống như kiểu hoa văn cánh sen.
Nhìn chung, các hình trang trí trên đồ đồng được thể hiện bằng kỹ thuật chạm khắc điêu luyện, thành thục. Những đường nét chân xác mà phóng khoáng, thể hiện đúng đề tài cần miêu tả. Hình hoạ tuy ước lệ, cách điệu song chính xác. Đường nét đơn giản khái quát, song vẫn thể hiện được cơ bản dáng điệu, thái độ, tình cảm của đối tượng miêu tả. Đó chính là nền móng cho những kiến thức rất cơ bản về nghệ thuật hội hoạ, trang trí dân gian.
Từ những vết tích tuy ít ỏi nhưng vô cùng quý giá từ thời xa xưa truyền về chúng ta có thể hình dung được trình độ phát triển cùng cuộc sống của tổ tiên ta trên vùng đất Vĩnh Phúc với kỹ thuật đúc đồng tinh xảo và một trình độ khá cao về điêu khắc, hội hoạ dân gian.

Vẽ hình
Như trên đã trình bày, người Việt cổ biết vẽ hình rất sớm: hình người, hình động vật, hình trang trí trên các vật dụng, trang trí nhà ở, vẽ trang trí trong các ngày lễ hội, vẽ trên da thú vật, trên gỗ, vẽ khắc trên đồ gốm, đồ đồng..., trên cả công cụ sản xuất và vũ khí chiến đấu. Đặc biệt đã xuất hiện tục xăm mình, chứng tỏ dân tộc ta từ buổi đầu dựng nước đã rất yêu thích mỹ thuật, coi mỹ thuật là một nhu cầu về văn hoá tinh thần không thể thiếu được (truyền thuyết Lạc Long Quân - âu Cơ).
Qua một số di vật tìm được ở các ngôi mộ cổ ở Vĩnh Phúc, (khu mộ cổ lớn nhất là khu mộ Lũng Hoà - huyện Vĩnh Tường. Đây là khu mộ táng lớn thuộc văn hoá Phùng Nguyên), ta thấy rõ người xưa đã biết vẽ màu: lục, vàng, đen, đỏ, xám và nâu cùng với những hòa sắc của nó. Hoạ phẩm có thể lấy từ sơn, từ vỏ cây, hạt hoa - Màu son, nâu, vàng có thể lấy từ các quặng trong đất. Những tranh vẽ trên da, trên vải, trên gỗ trải qua thời gian hàng nghìn năm không thể tồn tại được, trừ một số hiện vật hiếm hoi tìm được trong một số ngôi mộ cổ, màu sắc vẫn còn tươi nguyên đến ngày nay (*).

(*) Đó là những di vật tìm thấy trong mộ Việt Khê ở Hải Phòng, có niên đại khoảng thế kỷ IV trước công nguyên.

Người ta còn biết được chút ít về nghệ thuật vẽ hình và sử dụng màu là nhờ ở những hình vẽ trên đồ gốm, đồ đồng, do chất liệu bền, tồn tại lâu (gồm có màu hồng nhạt, màu nâu săm, màu xám, màu trắng mốc, những viên bi gốm màu đen, màu vàng... tìm thấy ở khu di chỉ Đồng Đậu, cách nay khoảng 3.000 năm)
Đó là những chứng tích biết nói của nghệ thuật vẽ hình và tạo màu thời tiền sử và sơ sử.

Tạo dáng - Điêu khắc
Khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu đến nay đã qua 6 lần khai quật. Sơ bộ thống kê 4 cuộc khai quật (cuộc khai quật lần thứ II và lần thứ VI, Viện bảo tàng lịch sử chưa công bố, đang chỉnh lý) chúng ta đã có 1344 hiện vật đá, 218 hiện vật bằng xương, sừng, 304 hiện vật gốm, 273 hiện vật đồng có thể phục nguyên được, chưa kể hàng tấn mảnh gốm vỡ và nhiều mảnh đồng, dây đồng nhỏ.
Những di vật trên đã chứng tỏ kỳ tích của ông cha ta trong việc tạo dáng, điêu khắc. Khi sáng chế công cụ thì phải nghiên cứu kỹ lưỡng chức năng của công cụ, nghiên cứu kỹ phần việc mà công cụ phải đảm nhiệm, để tạo cho chúng một hình dáng thật thích hợp, không thừa không thiếu. Mặt khác, phải nghiên cứu làm sao cho hình dáng công cụ đẹp mắt, thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người. Tổ tiên ta đã làm được điều đó. Có thể nói tất cả các công cụ được tạo ra thời Hùng Vương, dù là đồ đá, đồ gốm hay đồ đồng, được chế tác bằng bất kỳ kỹ thuật nào (ghè, đẽo, nặn, đúc...) đều có hình dạng, kiểu dáng rất phù hợp với chức năng của công cụ và phù hợp với thẩm mỹ của con người.

Những kiểu dáng ấy cũng rất ổn định, có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài. Thậm chí đến tận ngày nay, một số loại công cụ như: nồi, bình, vò, lưỡi rìu, lưỡi câu, bôn, giáo, dao găm... tuy đã được sáng chế bằng sắt thép, nhôm, nhựa với kỹ thuật hiện đại nhưng hình dáng của chúng vẫn như cũ, hoặc tương tự như ba, bốn nghìn năm trước.
Cho đến nay vẫn chưa ai biết tổ tiên ta gọi các công cụ của mình là gì. Việc đặt tên cho các công cụ đã khai quật được là do các nhà nghiên cứu thấy chúng hình dạng, kiểu dáng giống như ngày nay nên đã lấy tên gọi của công cụ ngày nay mà đặt cho công cụ ngày xưa. Điều đó đủ thấy trình độ tạo dáng rất chính xác của dân Văn Lang, những người Vĩnh Phúc thời cổ.

Do trình độ tạo dáng - điêu khắc giỏi như thế, nên một số công cụ thời nay đã trở thành vật mẫu cho các loại hình công cụ khác ở thời kỳ sau. Ví dụ, hình dáng của trống đồng thời Hùng Vương ngày nay vẫn còn thấy phảng phất qua nhiều đồ vật trong dân gian như những bộ tượng tam thế trong các chùa chiền, những mâm đồng, ống hoa, đài, bình ở các đền miếu, trên bàn thờ nhà dân... Chúng đều có một kiểu dáng chung là phần trên to, phần giữa thắt lại, phần đế phình ra...

Trong di chỉ Đồng Đậu (Yên Lạc), ta đã tìm thấy tượng trâu, bò, gà, tượng đầu người bằng đất nung độc đáo. Đó là những tượng tròn độc lập mang tính chất tạo hình rõ nét. Những tượng tròn này cùng với những tượng tròn phát hiện đồng thời ở giai đoạn Đông Sơn ngoài địa bàn Vĩnh Phúc như nhóm tượng người cõng nhau thổi khèn, tượng người thổi khèn ngồi trên cán muôi v.v… đã góp phần minh chứng cho sự độc lập phát sinh của nền nghệ thuật điêu khắc Văn Lang.

Sự ra đời của loại hình nghệ thuật tượng tròn ở giai đoạn văn hoá Đông Sơn là đỉnh cao của một nền nghệ thuật tạo hình. Nó đánh dấu sự phát triển về tư duy trí tuệ tới một thời kỳ mới trong lĩnh vực tạo hình, phản ánh hiện thực bằng hình khối cụ thể (tả người, tả vật) ở không gian ba chiều. Chất liệu làm tượng là đá, đất nung, đồng thau. Nặn tay, đúc rèn, mài gọt là những thủ pháp chính của kỹ thuật chế tác.
Đề tài của tượng chủ yếu là con người, ngoài ra còn là một số muông thú như gà, bò tót, cóc, chó, chim, hổ... tất cả đều ở trạng thái động rất linh hoạt. Những thành tựu trên của nền nghệ thuật Đông Sơn, cho thấy rằng việc xuất hiện những tượng tròn kiệt xuất ở một đỉnh cao hơn như tượng đá Phật A Di Đà, tượng gỗ Phật Quan âm nghìn mắt, nghìn tay đã làm ngạc nhiên biết bao sử gia mỹ thuật thế giới, là một điều tất yếu, phù hợp với quy luật tiến triển của tư duy nghệ thuật của dân tộc Việt Nam, mà những cư dân đầu tiên trên vùng đất Vĩnh Phúc đã có những đóng góp đáng kể.

Kiến trúc
Ăn và ở là hai yêu cầu thiết yếu được đặt ra ngay từ buổi đầu tiên con người vừa mới hình thành. Suốt một quá trình dài của thời nguyên thuỷ, con người sống chủ yếu dựa vào các hang động thiên nhiên để săn bắt, hái lượm, nên nghệ thuật kiến trúc chưa hình thành.
Từ thời đại đồ đá cũ đến hậu kỳ đồ đá mới, tiến dần lên thời đại đồ đồng, tổ tiên xa xưa của chúng ta cũng rời bỏ hang động miền núi tiến ra miền trung du và đồng bằng, thuận tiện cho việc trồng lúa nước, đánh bắt cá, cho nên phải làm nhà cửa để che nắng che mưa và chống thú dữ. Trải qua một quá trình dài thực nghiệm và cải tiến, đến giai đoạn văn hoá Đông Sơn, mô hình ngôi nhà đã hoàn chỉnh và khá phong phú, mà hình ảnh cụ thể của nó còn được khắc trên trống đồng Đông Sơn. Và dấu vết vật chất của nó cũng tìm thấy ở di chỉ Đông Sơn (Thanh Hoá) là những dóng tre, những mảnh phên đan và đặc biệt là những cột nhà bằng gỗ dài đến 4,5 mét có lỗ mộng cách chân cột 1,25 mét (để bắc sàn ?). Đó là những ngôi nhà ở trên sàn không có tường, mái cong võng hình thuyền và chảy xuống sát sàn kiêm luôn chức năng vách che. Hai đầu mái phía trên uốn cong và nhô ra xa. Những mô hình nhà này đều mang dáng dấp con thuyền, tĩnh mà rất động, thon thả mà chắc chắn, thích nghi với khí hậu nắng nóng và mưa to.

Người ta làm nhà cho dân, lầu gác cho các lạc hầu, lạc tướng, nhà sản xuất cho các công xưởng mỹ nghệ. Từ trung tâm là kinh đô Văn Lang, dân cư trú thành từng vùng trên những sườn đồi, đỉnh gò, chân núi và những doi đất cao ráo. ở đó việc xuống ruộng, lên nương, vào rừng, ra sông để trồng trọt, săn bắt, cấy hái và chài lưới được thuận tiện, đồng thời cũng dễ dàng đối phó khi có bất trắc xảy ra.
Sách “Lĩnh Nam chính quái” có chép: “Buổi đầu dựng nước, đồ ăn của dân chưa đủ, lấy vỏ cây làm áo, dệt cói làm chiếu, lấy hèm gạo làm rượu, lấy bột quang lang làm bánh, lấy thịt chim muông, cá tôm làm mắm, lấy gừng làm muối, cấy bằng dao, đốt cỏ bằng lửa. Đất nhiều gạo nếp, lấy ống tre để nấu cơm (1). gác gỗ làm nhà (2) để tránh khỏi hổ lang ăn thịt”.

(1) Cơm Lam
(2) Nhà sàn 
Ngay từ thời ấy, người Việt cổ trên đất Vĩnh Phúc đã rất quan tâm đến mặt thực dụng, nhưng cũng không xem nhẹ phần thẩm mỹ trong khi xây dựng nơi ở của mình. Những nơi cư trú này có những điểm rộng đến hàng vạn mét vuông như khu di chỉ Đồng Đậu (Yên Lạc). Khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu được phân bố trên một quả gò (nên gọi trở lại cho đúng tên là Gò Đậu) rộng khoảng 16.000 m2 nằm ở ven rìa của đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi giao điểm của những vùng đồi đất đỏ larêtít và vùng bồi tụ của phù sa sông Hồng đã được cư dân thời xưa cư trú liên tục với quy mô tương đương một làng khoảng ba, bốn trăm dân cư bây giờ. Nhà ở trong khu cư trú này là kiểu nhà sàn, nguyên liệu chủ yếu là gỗ, tre, vàu, diễn, lá cọ. Nhà thường hơi võng giữa, hai đầu nóc uốn cong lên như ta thấy trên nóc đình ở đời sau này. Giữa nóc nhà là trang trí hình chim. Các nhà nghiên cứu cho rằng đó là hình tượng thờ vật tổ Chim Lạc, mà các đời sau thay thế bằng đôi rồng chầu mặt Nguyệt.

Để phòng tránh thú dữ và chống lại những bộ tộc từ xưa đến xâm lấn, nơi cứ trú thường có hàng rào bằng cây gỗ bao bọc, chắc chắn hơn thì có hàng rào tre trồng dầy thành luỹ. Mỗi làng xóm thời cổ thường xây cất một ngôi nhà công cộng kiểu như nhà Rông vùng Tây Nguyên, nhà Lang người Mường và ngôi đình người Việt hiện nay.
Ngoài nghệ thuật Kiến trúc nhà sàn, ta không thể không nói đến một loại công trình kiến trúc cổ đại nữa, đó là thành quách. Đỉnh cao nhất và điển hình nhất của nghệ thuật Kiến trúc thời này là thành Cổ Loa, được An Dương Vương, người kế nghiệp các vua Hùng xây dựng vào khoảng thế kỷ III trước công nguyên. Làng Cổ Loa thuộc tổng Cổ Loa - huyện Đông Anh trước đây thuộc Vĩnh Phúc (từ năm 1961 được tách khỏi Vĩnh Phúc, chuyển giao về ngoại thành Hà Nội).

Thành Cổ Loa còn có tên là Thăng Long thành hay Khả Lâu thành. Đời Đường (Trung Quốc) gọi là Côn Lôn thành và thành rất cao. Nhân dân ta quen gọi là Thành ốc hoặc Loa thành, vì nó được xây dựng 5 vòng xoáy trôn ốc. Hiện thành chỉ còn lại 3 vòng. Trải mấy nghìn năm mưa gió và sự phá hoại của con người, những đoạn thành đất còn lại đến ngày nay vẫn sừng sững như gò cao, có chỗ cao đến chín, mười mét. Dưới thành là hào sâu, rộng từ 10 đến 30 mét. Hào được đào nối với sông Hoàng Giang. Thuyền bè có thể đi lại xung quanh các vòng thành, ra sông Hoàng Giang, rồi ra sông Hồng, sông Cầu sông Lục Đầu để tiến ra biển. Thành Cổ Loa là một kiến trúc quân sự độc đáo. Đó là một căn cứ bộ binh và thuỷ binh phối hợp. Khi nhắc đến thành Cổ Loa, ta liên tưởng đến truyện Thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành, rồi truyện Nỏ thần... Đó là những truyền thuyết thần thoại hoá một hiện thực lịch sử, ca ngợi một công trình kiến trúc quân sự vĩ đại, vượt quá sức tưởng tượng của người xưa, ca ngợi một tài năng tổ chức và chỉ huy của vị đứng đầu nhà nước âu Lạc, đã khiến cho Triệu Đà mấy lần đến xâm lấn đều phải thất bại thảm hại trước thành cao hào sâu nhiều lớp và những mũi tên đồng thần kỳ. Cuối cùng, Triệu Đà phải dùng mưu gian: Lợi dụng lòng tốt của cha con An Dương Vương để xin giảng hoà và làm thông gia mới dò la được bí mật của kiến trúc toà thành và bí mật của nỏ thần mà xâm lược nước ta.
Thành Cổ Loa chứng tỏ tổ tiên ta khi mới dựng nước đã có một trình độ khá cao về tổ chức và xây dựng những công trình phòng ngự vững chắc, kiên cố.

Trải qua nhiều thời gian với bao thăng trầm lịch sử cho đến ngày nay, những dấu vết còn lại tuy ít ỏi, nhưng cũng cho thấy mỹ thuật thời đại Hùng Vương là một nền mỹ thuật bản địa, được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Văn Lang và sau này là nhà nước âu Lạc. Nền mỹ thuật ấy đã phát triển từng bước từ thấp đến cao, và ngày càng hoàn thiện. Nếu như ở giai đoạn Phùng Nguyên mỹ thuật trang trí chủ yếu là những nét vạch, những đường thẳng, đường cong, vòng tròn đồng tâm thì đến giai đoạn Đông Sơn, tổ tiên ta đã tạo ra được tượng tròn, chạm được những bức tranh hiện thực phản ánh chân xác sinh hoạt đương thời.
Người xưa tạo nên những bức tranh nghệ thuật với mục đích trang trí vật dụng cho đẹp mắt. Những sáng tạo nghệ thuật ấy, ngày nay, lại có giá trị như những trang lịch sử sống động đầu tiên của dân tộc.
Nền nghệ thuật ấy chính là những di sản quý báu của nền văn hoá văn minh dân tộc; là những giọt mật tinh tuý được chắt ra từ khối óc thông minh, đôi mắt tinh đời, những bàn tay tài giỏi, khéo léo của tổ tiên chúng ta, góp phần tạo nên bản sắc nghệ thuật dân tộc.

Mỹ thuật thời phong kiến tự chủ
Cha ông ta đã sản sinh ra nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ với hàng ngàn hiện vật quý giá, vậy mà suốt 1000 năm Bắc thuộc tiếp đó, chúng ta không tìm thấy một di sản văn hoá gì đáng kể. Sở dĩ có tình trạng ấy là vì nhân dân ta đã phải sống hết sức cực khổ dưới ách áp bức bóc lột tàn tệ của bọn phong kiến phương Bắc, đặc biệt là chính sách đồng hoá (Hán hoá) của chúng đã kìm hãm sự phát triển của một nền văn hoá đang đi lên của dân tộc ta.

Cho đến khi Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng, lập nên nhà Ngô (939 - 967), và tiếp đến các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần... đất nước được độc lập, Phật giáo được sùng mộ thì nghệ thuật mới có điều kiện phát triển. Giai đoạn đầu của nền phong kiến tự chủ, đất nước chưa thật yên, kinh tế kiệt quệ, chưa có điều kiện vật chất để kiến thiết xây dựng. Đến triều nhà Lý, bắt đầu từ năm 1009, kéo dài 216 năm trải qua 8 đời vua gọi là Lý Bát Đế, rồi nhà Trần tiếp nối từ 1226, trải qua 12 đời vua, kết thúc vào năm 1400. Trong thời gian gần 4 thế kỷ, nhà Lý và nhà Trần đã để lại một dấu ấn hết sức đậm nét trên nhiều lĩnh vực, trong đó có nghệ thuật kiến trúc. Nhà Lý phá quân Tống hùng mạnh, nhà Trần 3 lần chiến thắng quân Nguyên hung bạo đã kích thích lòng tự hào dân tộc, đồng thời cũng kích thích sự sáng tạo văn hoá nghệ thuật. Nhà Trần cũng như nhà Lý, không những coi trọng Phật giáo mà bản thân một số nhà vua vào lúc cuối đời cũng đi chùa tu hành như một vị tăng ni, nên nói đến nghệ thuật Lý - Trần là người ta nhắc đến một nền nghệ thuật chùa tháp nổi tiếng.

Thời kỳ nhà Lê (Lê Lợi) là giai đoạn dài nhất trong các triều đại phong kiến tự chủ, và cũng là thời kỳ xã hội có nhiều biến chuyển lớn nên từ Lê sơ đến Lê mạt, về tính chất nghệ thuật có sự khác nhau khá xa. Đạo phật, Đạo giáo bị công kích, nho giáo được tôn sùng. Do vậy, từ thời Hậu Lê (1428), chùa chiền không được quan tâm xây dựng mà chủ yếu phát triển kiến trúc đình làng.
Từ Lê mạt (1533) đến triều Nguyễn, bên cạnh nền nghệ thuật theo những mực thước triều đình quy định ngặt nghèo, nẩy sinh một nền nghệ thuật chạm khắc dân gian thể hiện cuộc sống tươi mát của người dân lao động và tinh thần đấu tranh giai cấp khá rõ nét.
Trên địa bàn Vĩnh Phúc, các di tích kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ thời Lê (Lê Lợi) và thời Nguyễn còn giữ lại được đến nay khá phong phú.

Kiến trúc
Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng

Tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam, trải qua 4000 năm lịch sử có diễn biến khá phong phú và phức tạp. Nói đến tôn giáo Việt Nam, thông thường chủ yếu phải kể đến: Khổng giáo, Đạo giáo (còn gọi là Lão giáo), Phật giáo, và từ thế kỷ XVII có thêm đạo Thiên chúa. Ngoài ra còn một số tôn giáo khác với tín đồ ít ỏi như: đạo Hồi, đạo Tin lành, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo v.v...

Trong tín ngưỡng của dân gian vấn đề thờ cúng tổ tiên là phổ biến. Việc này được hệ tư tưởng Khổng giáo củng cố thêm hình thành chế độ tông tộc, gia trưởng, phụ quyền, làm nền tảng cho chế độ quân chủ trong xã hội phong kiến. Vì thế đã xuất hiện kiến trúc nhà thờ Họ trong làng xóm và bàn thờ tổ tiên trong mỗi gia đình để cúng giỗ, lễ tết hàng năm.
Trong phạm vi kiến trúc cổ Việt Nam, qua những công trình có giá trị nghệ thuật truyền thống mang nhiều tính dân tộc nhất, người ta chia “Kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng” thành 4 nhóm:
- Chùa - Tháp
- Đền - Miếu
- Đình làng
- Lăng mộ
- Nhà thờ họ
Trong phần này, chúng tôi chỉ giới thiệu kỹ về Chùa - Tháp, Đền - Miếu và Đình làng. Theo số liệu kiểm kê năm 1998 toàn tỉnh ta có 967 di tích các loại. Trong đó chia ra:
- Chùa có: 325 ngôi            - Miếu có: 95 ngôi
- Tháp cổ có: 01 ngôi         - Đình có: 287 ngôi
- Đền có: 112 ngôi              - Nghè có: 10
- Cầu có: 4 chiếc                 - Quán có: 4
- Nhà thờ thiên chúa: 21   - Di tích lịch sử: 46 di tích
- Điếm có: 5                         - Lăng mộ: 5 ngôi
- Di tích khảo cổ: 8             - Tượng đài: 2
- Nhà thờ họ: 18                  - Thắng cảnh: 4
Đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng và cấp bằng công nhận 92 di tích, UBND tỉnh ra quyết định đăng ký bảo vệ 223 di tích. Cụ thể chia ra theo huyện, thành, thị như sau: Vĩnh Yên 66 di tích, Lập Thạch 143 di tích, Tam Dương 81 di tích, Bình Xuyên 95 di tích, Vĩnh Tường 153 di tích, Yên Lạc 183 di tích, Mê Linh 167 di tích, Phúc Yên 55 di tích, Tam Đảo 69 di tích.
Những đình, chùa, đền, miếu đều được xây dựng theo những công thức nhất định.

Về mặt bằng, thường được bố trí theo các kiểu: hình chữ nhất, chữ nhị, chữ tam, chữ vương, chữ đinh, chữ nhi, chữ công, lớn nữa thì nội công ngoại quốc. Hiện nay trong số các kiến trúc cổ còn lại, loại nội công ngoại quốc không còn ngôi nào nữa, vì phần tạo thành chữ quốc ở ngoài thường đã bị đổ nát hoặc bị thu hẹp qua các lần trùng tu. ở Vĩnh Phúc, chủ yếu là kiểu chữ đinh và chữ công. Kiểu kiến trúc chữ đinh chiếm đa số.

Về địa thế, thường được lựa chọn cẩn thận. Người xưa hay đặt công trình ở vị trí cao ráo, thoáng mát, bên cạnh thường có hồ ao, khe suối tạo cảnh “sơn thuỷ hữu tình”. Chùa thời Lý - Trần thường làm trên đồi cao hay trên núi, xa nơi dân cư để chốn thiền tôn được tịch mịch, thâm nghiêm. Về sau, khi đạo Phật bị đạo Nho bài bác rồi suy yếu, chùa chiền bị lợi dụng làm nơi hành nghề mê tín dị đoan bói toán quàng xiên nên chùa được chuyển về trong thôn xóm, gần đình, giữa nơi dân cư đông đúc.

Về hướng, các kiến trúc tôn giáo thường quay về hướng nam hay đông - nam mát mẻ. Riêng các ngôi đình làng ở Vĩnh Phúc thường quay về hướng tây, vì quan niệm hướng tây là hướng mặt trời lặn, là thế giới của người chết, của thần thánh. Mặt khác, rất có thể là do đòi hỏi chống ẩm của kiến trúc, vì bản thân mái đình thấp và rất dầy đã làm cho đình luôn mát, nếu thêm gió nam thì sẽ tăng độ ẩm trong đình, làm kiến trúc chóng hư hỏng. Đình quay hướng tây, buổi chiều đón được ánh nắng mặt trời chiếu dọi vào khiến lòng đình luôn khô ráo.
Đấy là nói về những đặc trưng chung, đi vào cụ thể sẽ có những biến tấu riêng.

Chùa
Vĩnh Phúc có 325 ngôi chùa. Nhiều ngôi chùa có giá trị lịch sử văn hoá, kiến trúc nghệ thuật được bảo tồn gần như nguyên vẹn: chùa Vĩnh Phúc (Sơn Đông, Lập Thạch), chùa Bồng Lai (Bàn Giản, Lập Thạch), chùa Tùng Vân (Thổ Tang, Vĩnh Tường), chùa Hoa Dương (Tuân Chính, Vĩnh Tường), chùa Ngũ Phúc (Tích Sơn, Vĩnh Tường), chùa Hà Tiên (Định Trung, Vĩnh Yên), chùa Bồng Mạc (Liên Mạc, Mê Linh), chùa Kính Phúc (Hương Canh, Bình Xuyên), v.v..

Đối với chùa, phần kiến trúc mang tính nghệ thuật nhiều nhất là tam quan. Tam quan tức là cổng vào chùa có 3 cửa, ứng với thuyết tam không của nhà Phật. Thường cửa giữa to, hai cửa hai bên nhỏ hơn. ở tam quan, thường có gác treo chuông, khánh hoặc trống. Khu trung tâm là điện thờ Phật của chùa, thông thường bao gồm 3 ngôi nhà nằm kế tiếp nhau.
Tiền đường: là căn nhà ngoài, nơi tín đồ thiện nam tín nữ tụ tập, dâng hương, hành lễ cầu Phật. Hai bên có thờ các tượng Đức ông: ông Thiện, ông ác...

Thiên hương: nơi đốt hương, gõ mõ, tụng kinh.
Thượng điện: gồm nhiều tượng Phạt đặt trên các bệ xây từ thấp đến cao, tượng trưng cho sự tu hành đắc đạo của các Đức Phật gọi là “Tam Bảo” của khu chùa, đồng thời biểu hiện các triết lý của đạo Phật. Hệ thống tượng Phật trong chùa theo diễn biến lịch sử có nhiều thay đổi: thời Lý (thế kỷ XI, XII) chỉ thấy mới có một pho tượng Phật A Di Đà; thời Trần (thế kỷ XIII, XIV) phát triển có tượng Tam Thế gồm 3 pho: quá khứ - hiện tại - tương lai xếp hàng ngang và 3 pho tượng A Di Đà - Thích Ca Mâu Ni - Di Lặc xếp hàng dọc. Từ thời Hậu Lê (thế kỷ XV) trở đi điện thờ Phật có nội dung càng phức tạp hơn, có nơi người ta thờ cả tượng Ngọc Hoàng, Đế Thích, Thập đạo Diêm Vương, Thổ công, Thổ địa... trong chùa.
Ngoài khu trung tâm nói trên, kiến trúc chùa còn có thể có dãy hành lang ở trong cùng thường là nơi đặt bàn thờ điêu khắc tượng các vị La Hán, các vị Hoà thượng hoặc phối hợp cùng hành lang hai bên làm nơi tạm trú cho khách thập phương, chuẩn bị cỗ chay ngày lễ hội v.v... Cũng có khi kết thúc kiến trúc khu chùa là một dãy nhà tổ (nơi sinh hoạt của các sư trụ trì), hoặc khu nhà tổ này được xây riêng ở kế bên chùa.
Như đã nói trên, Vĩnh Phúc có nhiều chùa, và cũng nhiều chùa còn gần như nguyên vẹn. Nhưng việc xác định đâu là những chùa thuộc thời kỳ Lý - Trần thì đang là một dấu hỏi. Chỉ có chùa Hà Tiên (nhân dân quen gọi là Chùa Hà) thuộc xã Định Trung (Vĩnh Yên) là có một lịch sử xây dựng phỏng đoán vào thời Trần. Sự suy luận và phỏng đoán ấy dựa trên cơ sở sau đây: Trong sách “Việt Điện U Linh” của Lý Tế Xuyên biên soạn đời Trần có đoạn: “Chùa chiền thời Lý chia làm 3 hạng: Đại danh lam, trung danh lam, tiểu danh lam. Những chùa hạng đại do nhà vua xây dựng, những chùa hạng trung do quý tộc xây dựng, những chùa hạng tiểu do nhà sư xây dựng. Còn thời nay (tức nhà Trần - BĐS chú) có thêm một hạng nữa đó là của dân tự đóng góp để xây dựng chùa mà đi đâu cũng thấy. Nhất là ở vùng Dương cả làng làm chùa. Họ làm rất nhiều chùa trong một làng. Có những chùa dựng nên rất sớm như chùa Hà Tiên...” (*)

(*) Việt Điện U Linh - Bản dịch, NXB Văn hoá 1960.

Qua tra cứu, thời Trần chỉ có một vùng tên Dương, đấy chính là huyện Dương, trấn Tuyên Quang. Cả vùng Vĩnh Phúc, Tuyên Quang hiện nay chỉ có một ngôi chùa mang tên là “Hà Tiên tự”, tức chùa Hà Tiên ở Vĩnh Yên. Căn cứ vào sách trên, ta có thể suy đoán chùa Hà được xây dựng vào thời Trần, bằng tiền do nhân dân đóng góp.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu kỹ một số chùa còn nguyên vẹn ở Vĩnh Phúc.

Chùa Kính Phúc ở Hương Canh (Bình Xuyên)
Chùa Kính Phúc (tên chữ là Kính Phúc tự), bên cạnh đình Hương, nhìn theo hướng Tây - Nam, trong khuôn viên có diện tích 1.352 m2, mặt bằng kiến trúc kiểu chữ công và có cùng khoảng thời gian xây dựng với cụm đình Hương Canh (cuối thế kỷ XVII, đầu XVIII). Cổng chùa có tường bao với hàng trục biểu cao vút, có các ô trang trí hình vuông. Trên đỉnh trục đắp nổi hình 4 chim phượng xoè đuôi, uốn vút cong, nổi bật trên khoảng không gian mênh mông, tạo nên ấn tượng khó quên về một mô típ nghệ thuật dân gian truyền thống. Bốn cột trụ và hai bức cánh phong đắp nổi hình long chầu hổ phục tạo ra cổng chính và hai cổng phụ. Ngay sau cổng là Sở môn tự với lối kiến trúc 2 tầng 8 mái, như gợi lên một vũ trụ quan dịch học. Các lớp mái với đầu đao vươn cao thanh thoát, nhẹ nhàng, bay bổng tượng trưng cho Dương, đặt trên thế kiến trúc vững chắc tượng trưng cho âm. âm Dương điều hoà (lưỡng nghi) sinh tứ ượng, tượng trưng cho 4 phía mái, rồi tứ tượng vận hành mà sinh Bát quái (Càn: Trời; Khảm: Nước; Cấn: Núi; Chấn: Sấm; Tốn: Gió; Ly: Lửa; Khôn: Đất; Đoài: Đầm, hồ) là biểu trưng của 8 lá mái để rồi vận động, biến đổi mà thành muôn loài.

Rõ ràng, vẻ đẹp của kiến trúc vừa tạo giá trị mỹ thuật của công trình, vừa chuyển tải giá trị cao cả là ý nghĩa tâm linh sâu nặng, là tư duy biện chứng của nền triết học Phương Đông, tâm tư nguyện vọng của cư dân nông nghiệp, cầu mong Thiên thời - Địa lợi - Nhân hoà.
Sở môn tự gồm 3 gian, 2 dĩ, với lối kết cấu kiểu “Chồng bồn con sơn” và “Thượng rường hạ kẻ”. Nơi đây còn lưu lại nhiều bức chạm khắc gỗ đẹp với đề tài. “Tứ Linh” (Long, Ly, Qui, Phượng), biểu tượng của thần quyền. Thượng cung của Sở môn tự là nơi đặt bài vị thờ Hùng Vương. Phía ngoài Thượng cung là cửa võng, được bố cục gồm 3 lớp, với trình độ chạm trổ rất tinh luyện, đề tài chủ đạo là sự hòa quyện của thiên nhiên.

Qua Sở môn tự đến khoảng sân gạch với cây hương đá cao 2,3 mét có khắc ghi rõ danh tính của những người giàu lòng tích thiện, góp của, hưng công, xây dựng nên Kính Phúc tự. Cũng ở cây hương đá này có ghi niên đại khởi dựng chùa là năm Vĩnh Thịnh thứ hai (triều vua Lê Dụ Tông - năm 1706). Đi hết sân đến toà Tiền đường gồm 5 gian, 2 dĩ, được nối với toà Thượng Điện song song bằng 3 gian kiểu “ống muống” để tạo nên mặt bằng kết cấu ngôi chùa theo kiểu chữ công, có hệ thống chịu lực gồm 52 cây cột gỗ, 14 bộ vì kèo, dạng thức “Chồng Rường” và “Kèo chống nóc”. Trên Thượng lương còn ghi rõ năm trùng tu là năm thứ 22, triều Lê Cảnh Hưng (1761). Chùa có 32 pho tượng cổ sơn son thiếp vàng đẹp. Điều cuối cùng cần nói khi giới thiệu kiến trúc chùa Kính Phúc là gác chuông chùa. Gác chuông nổi bật lên trong toàn cảnh không gian chùa, được phục dựng theo mặt bằng nguyên gốc. Từ đây tiếng chuông chùa vẫn vang lên, lắng vào cõi tâm linh, thức tỉnh lòng tích thiện và gắn kết con người cùng xây dựng cuộc sống.

Chùa Hoa Dương ở Tuân Chính (Vĩnh Tường)
Chùa Hoa Dương (tên chữ là Hoa Dương tự), xây dựng trên địa phận thôn Thượng, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường. Chùa được làm năm Chính Hoà thứ nhất (Lê Hy Tông - 1680) theo lối kiến trúc chữ công (I). Chùa có 7 gian. Thượng điện 5 gian. Hai bên hành lang có 15 gian làm nơi đón tiếp và dừng chân cho khách thập phương hàng năm về dự lễ hội.

Chùa toạ lạc trên một khu đất cao thoáng mát, dân cư đông đúc, cây cối quanh năm xanh tốt. Theo truyền thuyết, đây chính là khu đất có địa thế hình con rùa (làng cũng gọi là Làng Rùa). Chùa làm theo hướng Tây - Nam, phía trước là một đầm sen. Nguyên vật liệu được xây dựng ở đây chủ yếu gồm gạch Bát Tràng, ngói mũi rồng, đá xanh đen và các loại gỗ tứ thiết. Toàn bộ cột, xà, câu đầu, kẻ nghé, các mộng sàm đến nay vẫn còn chặt khít với nhau. Nền chùa được xây thành 5 bậc, cao 1,5 mét. Các bậc lên xuống đều được xây dựng và gia công cẩn thận. Các chân cột đều kê bằng đá, mỗi phiến đá chân cột có kích thước 75 x 75cm, dày 20cm, xung quanh có vét phào tạo thành một đường lõm hình lòng máng vòng quanh phiến đá, dùng để đổ dầu chống mối mọt xâm nhập vào cột.

Phía trước cửa chùa có hai cột trụ cao 7 mét. Trên đỉnh 4 mặt cột là hình những con nghê, miệng ngậm hạt sen, mắt lồi, bờm tóc chải về sau. Cơ mặt biểu hiện hình khối rắn chắc thể hiện sự bao quát tự nhiên, tạo thế uy nghi, trang nghiêm và tôn kính của chùa.
Chùa Hoa Dương còn giữ được nhiều hiện vật giá trị: 20 bộ hoành phi câu đối; 18 bộ cuốn thư, cửa khảm, nghi môn; toà Cửu Long với nét chạm khắc tinh xảo; 1 cây hương đá (1680); 1 chuông đồng (1826); 20 pho tượng Phật; và 2 bia đá (1916).

Tháp
Trong kiến trúc tôn giáo, Chùa - Tháp thường đi liền với nhau. Vì thế nói đến chùa là phải nói đến tháp. Thời Lý - Trần ở Vĩnh Phúc đã có nhiều tháp. Tháp là một bộ phận, một phần công trình nghệ thuật quan trọng của chùa . Cùng với chùa, tháp là nơi thờ Phật có tính chất tưởng niệm và là nơi để hài cốt các nhà sư. Các tầng của tháp tượng trưng cho từng bước tu hành để lên cõi Niết Bàn của các phật tử.

Trong số tháp còn lại hiện nay, chỉ có Tháp Bình Sơn là cao nhất và trọn vẹn nhất. Tháp Bình Sơn (còn gọi là Tháp Then) ở xã Tam Sơn (Lập Thạch). Cạnh cây tháp có chùa Vĩnh Khánh (cũng gọi là chùa Then). Hiện nay ngôi chùa này vẫn còn với qui mô nhỏ bé, đơn giản, có niên đại vào khoảng cuối thời Nguyễn.
Hiện nay, chùa và tháp cả về vị trí, phong cảnh nghệ thuật gần như không ăn nhập gì với nhau cả. Bởi ngôi tháp được coi là một kiến trúc cao tầng và đẹp và có niên đại sớm hơn nhiều. Có người cho là thuộc thời Lý... có ý kiến cho là thuộc thời Trần, lại có ý kiến cho là thuộc thế kỷ XVI, thời Mạc.

Năm 1972 - 1973, tháp được trùng tu. Nền móng tháp được khai quật để nghiên cứu và đã làm rõ thêm được một đôi điều về Tháp Bình Sơn.
Trước hết là về niên đại: Trên một viên gạch xây tháp có hàng chữ đề “Canh Ngọ niên tạo Linh Sơn tự”, tức là chùa Linh Sơn được tạo năm Canh ngọ. Năm Canh Ngọ trong lịch sử, tính từ nhà Lý (1009) đến hết nhà Trần (1399) có các năm Canh Ngọ sau đây: 1090 (thế kỷ XI), 1150 (thế kỷ XII), 1210 và 1270 (thế kỷ XIII), 1330 và 1390 (thế kỷ XIV). Chưa rõ năm Canh Ngọ để ở viên gạch xây tháp chính xác là năm nào. Vậy ta cứ tạm nói chung là thuộc thời Lý - Trần. Và cũng chính dòng chữ này cho thấy cùng với tháp còn có một ngôi chùa Linh Sơn. Chùa Linh Sơn đã bị phá huỷ hoàn toàn nhưng nhiều vật liệu xây dựng thời Trần tìm thấy trong hố khai quật cho thấy điều đó là hợp lý. Về sau người ta đã xây dựng tại đây ngôi chùa Vĩnh Khánh mà ta vừa nhắc tới ở trên. Tháp Bình Sơn, tuy đã bị thời sau tu sửa nhưng vẫn còn giữ khá nguyên vẹn hình ảnh một cây tháp thời Trần như tháp Phổ Minh ở Nam Định (xây dựng vào năm 1305 - 1310).

Tương truyền tháp Bình Sơn có 15 tầng. Cứ theo các cụ ở địa phương thì trước kia, trên nóc tháp có một hình khối búp hoa sen chưa nở, bằng đất nung, tạo cho toàn thân tháp một dáng vươn lên khá đẹp. Hiện nay chỉ còn 11 tầng tháp và 1 tầng bệ, tất cả cao 16,5 mét. Tháp hình vuông, nhỏ dần về phía ngọn. Cạnh của tầng dưới cùng là 4,45 mét; cạnh của tầng thứ 11 là 1,55 mét. Tháp được xây bằng 13.200 viên gạch nung, gồm 2 loại: một loại hình vuông có kích thước 0,22 m x 0,22 m; một loại hình chữ nhật có kích thước 0,45m x 0,22m. Phần ruột tháp có một khoảng trống nhỏ chạy suốt chân tháp lên ngọn. Bên ngoài, xung quanh tháp được ốp một lớp gạch vuông, mỗi cạnh dài 0,46m, phủ kín thân tháp. Mặt ngoài của gạch ốp này đều có trang trí hoa văn rất phong phú như hoa chanh, hình lá đề, sư tử vờn cầu, rồng uốn khúc. Có viên gạch được khắc một hình trang trí, có hình lại do 2 viên hoặc 4 viên ghép lại mới thành. Đường nét trang trí ở đây rất tinh tế, phóng khoáng, hình dáng chắc khoẻ, mang đầy sinh khí của nghệ thuật dân tộc thời kỳ phong kiến tự chủ cường thịnh - thời Lý - Trần (thế kỷ XII - XIII).

Những khảo sát và nghiên cứu gần đây cho thấy gạch dùng để xây dựng tháp Bình Sơn được nung với độ lửa cao. Để cho các viên gạch có thể đứng với nhau theo một chiều cao dựng đứng mà không cần vôi vữa, những người xây dựng tháp đã sáng tạo những phương pháp lắp ghép khá độc đáo. Viên gạch được chế tác có mấu và có gờ chỉ để giữ lấy nhau, đó là phương pháp xây gạch khẩu ở chân bệ. Còn có cách khác là mỗi viên gạch có một lỗ hình thang, hai viên gạch xếp sát nhau, tạo thành một mộng cá và người ta đổ chỉ vào mộng cá đó để giữ hai viên gạch với nhau, đó là phương pháp xây bằng cá chì dùng để dựng chân tháp.

Chân tháp có nhiều vành đai cánh sen chồng nhau làm cho khách tham quan có cảm tưởng như toà tháp được mọc lên từ một bông sen lớn. Tầng tháp thứ nhất cao 2,72 mét, cạnh 3,30 mét, bốn mặt đều hình tổ tò vò có sáu chữ nhật dọc, đế nào cũng có ba ô tròn chạm rồng nổi, thân rồng uốn tròn, nằm trên một nền cúc dây. Các ô rồng này lại được đặt nằm trong khung khắc chìm các cánh hoa cúc có hình dấu phẩy. Các đế có hình rồng này được trang trí lá đề, hoa dây cuốn nổi. Tầng tháp thứ hai cao 1,68 mét, cạnh 2,72 mét, có một hàng cánh sen ngửa đỡ lấy những hàng gạch. Bốn khung cửa tò vò của tầng tháp này đều có mỗi bên tám khung hình chữ nhật, mỗi khung có hình đắp nổi một ngôi tháp nhỏ 5 tầng toả ánh hào quang với những đường chỉ chiếu ra bốn phía. Ngoài hình tháp nhỏ, ta lại gặp những mô típ trang trí lá đề, cúc dây, hoa dây cuốn nổi. ở tầng thứ 8 cũng có trang trí hình tháp nhỏ. Cả 11 tầng tháp đều được trang trí bằng nhiều loại hoa văn với các hình cánh hoa cúc, sư tử vờn cầu sóng lợn lá đề, hoa chanh... Mỗi tầng tháp đều có nhiều hàng gạch khẩu nhô ra làm mái. Theo lão hoạ sĩ dân gian Nam Sơn (nguyên là ông từ chùa Vĩnh Khánh) và các cụ già trong vùng thì ở mỗi ô cửa tò vò của các tầng tháp xưa kia đều có tượng Phật Bà.

Về niên đại Tháp Bình Sơn, một học giả thực dân là Bezacier cho rằng đây là “nghệ thuật Đại La”, có nghĩa là nghệ thuật thuộc văn hoá Đường du nhập sang Việt Nam vào thời Cao Biền làm quan đô hộ sứ Giao Châu (khoảng thế kỷ VII) Đây là một quan điểm muốn tách công trình nghệ tuật tạo hình tuyệt tác này ra khỏi văn hoá bản địa và mang tư tưởng miệt thị dân tộc ta, đề cao công cuộc khai hoá của kẻ xâm lược. Ngày nay, các nhà nghiên cứu nghệ thuật tạo hình Việt Nam đã khẳng định Tháp Bình Sơn là một công trình nghệ thuật của Việt Nam, do bàn tay và khối óc của nhân dân Việt Nam sáng tạo vào thời Lý - Trần. Niên đại tuyệt đối của tháp còn là một vấn đề cần được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.

Đình làng
Đình làng là công trình kiến trúc cổ truyền bảo tồn khá trọn vẹn những đặc điểm nghệ thuật kiến trúc trong sáng, độc đáo, tính dân tộc phong phú đậm đà bản sắc dân gian và ít chịu ảnh hưởng ngoại lai hơn tất cả các loại hình kiến trúc cổ Việt Nam xây dựng trong xã hội phong kiến xưa.
Đình làng có thể xếp vào loại hình các công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng vì là nơi thờ Thành Hoàng - vị thần bảo hộ của mỗi làng Việt cổ truyền, phong tục tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam cận đại.

Đình làng còn có thể xếp vào loại hình kiến trúc công cộng dân gian vì đó là một trung tâm sinh hoạt chính trị và văn hoá xã hội của làng - tế bào sống và đơn vị cư trú của xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945: là trụ sở hành chính của xã thôn, nơi hội họp của Hội đồng kỳ mục để bổ bán binh dịch, phân chia công điền công thổ, đặt khoán ước và giải quyết công vụ tranh chấp, kiện cáo, thu thuế, thu sưu, phạt vạ, ăn khao v.v...Trong những ngày hội làng - thường là ngày giỗ Thành Hoàng - đình làng lại trở thành trung tâm văn hoá của làng xã, trình bày và biểu diễn tất cả kho tàng văn hoá dân gian tích luỹ từ đời này qua đời khác của địa phương, với sự tham gia nhiệt tình và sôi nổi qua rước lễ, các trò chơi, hát múa dân gian... thu hút mọi lứa tuổi và lôi cuốn hầu hết dân làng tham dự.

Do những chức năng nói trên, đình làng rõ ràng là một công trình kiến trúc đa năng và tổng hợp. Từ năm 1912, một học giả người Pháp P.Giăng đã viết về đình làng Việt Nam: “Đó là nơi thực hiện tất cả những sự kiện đời sống và xã hội Việt Nam”. Đến ngày nay, đình làng vẫn là một đối tượng và đề tài lý thú của các nhà nghiên cứu xã hội học, nghệ thuật và kiến trúc.
Về bố cục tổng thể không gian: địa điểm xây dựng đình làng thường không quá xa mà gắn liền với khu ở của dân làng, thế đất có thể hẹp, song tầm nhìn mở rộng và phóng khoáng. Đình có thể là một công trình đơn độc, hợp khối hay là một quần thể kiến trúc (kiểu cụm đình Hương Canh), cũng có khi kết hợp xây dựng cùng các kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng khác: chùa của Phật giáo, Văn chỉ của Khổng giáo, đền miếu của Đạo giáo. Phía trước đình làng thường có sân rộng, hồ nước, cây xanh tạo cảnh... để thoả mãn công năng tập hợp đông đảo dân làng, những ngày lễ hội, vui chơi giải trí. Tổng thể kiến trúc được bố cục nhấn mạnh tính hoành tráng, tính chiều hướng rõ rệt bằng hệ thống trục chính, trục phụ theo kiểu bố cục trung tâm kết hợp với bố cục chiều sâu và giải pháp không gian quy hoạch được tổ chức có sự gắn bó hài hoà của 3 loại không gian kiến trúc: kín, nửa kín, và thông thoáng nhằm phục vụ chức năng đa dạng tổng hợp của công trình.

Kiến trúc công trình đình làng đơn giản có thể chỉ là một nếp nhà 5 - 7 gian “thông xuồng”, bốn mái kiểu chữ Nhất, hoặc qui mô hơn phức tạp hơn với những dạng bố cục mặt bằng chữ Đinh, chữ Nhị, chữ Công, chữ Môn v.v.. và không gian phát triển cả phía sau, phía trước với hai bên: Hậu cung, Tiền tế các dãy Tả vu, Hữu vu. Song không gian chủ yếu và chính thức nhất vẫn là toà Đại đình (Đại bái), ngoài ra còn có các công trình phụ, sân, tam quan, trụ cổng... tuỳ theo công sức đóng góp và kinh tế giàu nghèo của địa phương làng xã mà công trình qui mô to nhỏ, trang trí phong phú, tinh xảo hay khiêm tốn, mộc mạc.Trong các thành phần công trình kiến trúc đình làng, đáng chú ý là: Hậu cung, Đại đình và nhà Tiền tế.

Hậu cung là nơi thờ thần - Thành Hoàng Làng, cất giữ các vật thiêng, đồ thờ cúng đòi hỏi một không gian không lớn lắm nhưng phải ở vị trí trung tâm kín đáo để tạo nên không khí thần bí, trang nghiêm. Trong kiến trúc đình làng, đây là một dạng không gian quây kín cố định, nằm lọt ngay trong gian trung tâm của toà Đại đình (Đại Bái), hoặc được bố cục riêng biệt một nếp nhà ở phía sau và nối tiếp với toà Đại Bái bằng một nhà cầu “ống muống”.

Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng trong xã hội Việt Nam cận đại có nhiều nguồn gốc phức tạp. Có Thành Hoàng là một nhân thần: trung thần nghĩa sĩ có công với dân của làng mình hay địa phương khác (Lý Bí, Triệu Quang Phục, Lân Hổ, Triệu Thái...) có khi là một nhân vật theo truyền thuyết và huyền thoại: Thánh Tản Viên (Sơn thần), có khi là ông tổ một dòng họ hoặc một vị tổ nghề thủ công truyền thống... Như vậy Thành Hoàng có nơi là nhân thần, có nơi là thiên thần. Triều đình phong kiến tập quyền Việt Nam xưa đã khéo léo lợi dụng tín ngưỡng dân gian thờ Thành Hoàng ở các đình làng, qui tất cả các vị Thành Hoàng làng vào hệ thống tôn ti trật tự của nền quân chủ, nhà vua phong “sắc” cho từng vị Thành Hoàng kèm theo sắc phong có bản “Thần phả” của bộ Lễ biên soạn để đề cao chính thể quân chủ và triều đình.

Đại Đình (Đại Bái) là nơi hành lễ, sinh hoạt công cộng và hành chính công vụ nên đòi hỏi diện tích và không gian khá lớn, trang trọng, bề thế, gắn liền với hậu cung nhưng mặt khác lại có thể mở rộng đối với không gian rộng lớn và thiêng liêng bên ngoài. Giải pháp kiến trúc thông dụng của toà Đại Đình các đình làng thường là một nếp nhà rộng lòng 5-7 gian hoặc 9 gian có chái hay không có chái 4 mặt nhà được lồng cửa bức bàn bưng kín hoặc cũng có công trình để thông thoáng với những hàng cột và lan can đơn giản. Những ngôi đình làng tương đối quy mô thường được cấu tạo sàn sạp bằng ván gỗ với 3 mức cao thấp khác nhau, thể hiện rõ sự phân cấp phân hạng rõ ràng về ngôi thứ và quyền lợi của làng thôn Việt Nam trong xã hội phong kiến vào những dịp lễ, hội hè, kể cả khi ăn uống.

Toà Đại Đình là không gian chủ yếu và chính thống nhất của kiến trúc đình làng, mang nhiều ý nghĩa và yêu cầu sử dụng cổ truyền, và là di duệ của ngôi nhà làng công cộng xa xưa thời Hùng Vương dựng nước mà lưu ảnh còn lại trên một số trống đồng cổ, tương tự tính chất các ngôi nhà rông của bản làng các dân tộc Tây Nguyên. Hệ thống kết cấu gỗ: cột, xà, kẻ, bảy theo hệ chồng rường hoặc giá chiêng, liên kết chủ yếu bằng mộng mẹo tạo nên thế cân bằng và vững chắc cho kiến trúc ngôi đình. Những hàng cột lớn, cột con đứng thẳng trên các hòn kê bằng đá tảng - sức nặng toàn bộ mái, các vì xà, truyền qua các cột xuống hòn đá tảng, không cần móng. Những cột thường để mộc, bào tròn nhẵn bóng, thượng thu hạ thách và dựng song song thẳng tắp. ở một số đình làng cột cái được sơn son thếp vàng và trang trí rồng mây. Trên các vì kèo, tất cả các đầu bảng, đầu dư, đố, xà kẻ, ván gió, ván nong v.v .. là nơi các nghệ sĩ điêu khắc dân gian chạm khắc các đề tài tái hiện cuộc sống và lao động của con người, cảnh sắc thiên nhiên... vô cùng phong phú sinh động, giàu tính dân gian, khác hẳn các công trình kiến trúc cung đình hay tôn giáo tín ngưỡng khác.
Nhìn từ bên ngoài, mái đình có tỷ lệ đồ sộ, khá dày, chiếm 2/3 chiều cao ngôi đình, bốn góc xoè rộng uốn lượn nhẹ nhàng. Bờ nóc hơi võng, có khi hai đầu nhô cao vút ra ngoài hình con thuyền lớn, có khi được đắp thành hình đôi rồng chầu vòng sáng (Lưỡng Long Chầu Nguyệt), các bờ dải có đắp hình trang trí con xỏ, con kìm... cùng các đường gờ đường xoi của lá mái, tương phản rõ rệt với các nhà thôn xóm lân cận và lại hoà hợp với thiên nhiên cây cao, hồ rộng, hoặc đồng ruộng xung quanh.

Nhà Tiền tế thường có kích thước và quy mô nhỏ hơn toà Đại đình, mặt bằng hình chữ nhật hay hình vuông, đa số không có cửa vách xung quanh.
Cùng với sân đình, các hành lang Tả vu, Hữu vu, nhà Tiền tế, rồi Nghi môn ngoại (còn gọi là Thiên trụ hay cột trụ biểu, tứ trụ) là bộ phận nối tiếp giữa kiến trúc đình làng và ngoại cảnh tổng quan, cần thiết khoáng đạt rộng mở để dễ dàng tập hợp quần chúng đông đảo tiến hành rước lễ hoặc giải trí vui chơi.

Dù bố cục thế nào, tạo hình kiến trúc đình làng cũng nổi lên là một bộ phận biểu tượng vật chất của làng quê Việt Nam.
Thoạt kỳ thuỷ “đình” theo nghĩa chữ Hán cổ xưa là một loại hình kiến trúc công cộng để trú quân, nghỉ tạm. Sau trở thành “đình trạm”, dùng làm nơi tạm dừng chân của các sứ bộ, các châu mục từ ngoài vào bái yết triều đình các vua Đinh và Tiền Lê (Lê Đại Hành). Đến thời Trần, các địa phương đều có “đình trạm” để cho người đi đường dừng chân đồng thời có thờ tượng Phật.

Tiếp đó, lúc thái bình các vị Thái Thượng Hoàng và vua Trần đi tuần du về các địa phương, nhân dân và quan chức sở tại cũng đón tiếp tại “đình trạm”. Qua thời kỳ Lê sơ (Lê Lợi) rồi đến thời Mạc đình đã thay thờ Phật thành thờ Thành Hoàng Làng. Và những ngôi đình có quy mô kiến trúc như hiện nay xuất hiện hàng loạt trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Những ngôi đình có giá trị kiến trúc và nghệ thuật được xây dựng trong thời kỳ này, nay còn khá nguyên vẹn là Đình Thổ Tang (Vĩnh Tường), cụm đình Hương Canh (Bình Xuyên), đình Bạch Trữ (Mê Linh), đình Tiên Lữ, đình Tây Hạ Bàn Giản (Lập Thạch), Đình Hùng Vĩ (Yên Lạc)...
Trong số 287 ngôi đình của tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi xin chọn giới thiệu một số ngôi đình tiêu biểu.

Cụm Đình Hương Canh (Bình Xuyên)
Như tất cả các đình vùng thượng châu thổ sông Hồng, cụm đình Hương Canh khi dựng cũng được chọn một khu đất được coi là linh thiêng nhất. Cả ba đình đều dựng trên các gò cao của làng, mà các cụ gọi là mảnh đất có hình con rùa - Đình Hương Canh hướng chính Tây chếch Nam, Đình Ngọc Canh hướng chính Nam chếch Tây, đình Tiên Canh hướng Tây Nam. Cả ba đình Canh (Cánh) chọn lựa một vị trí dựng đình thuận lợi: lưng dựa vào gò cao (yếu tố dương), mặt ngoảnh ra sông nước - gọi là sông Cánh hay sông Cà Lồ - (yếu tố âm) - đó là truyền thống chọn đất dựng đình nói chung của người Việt.

Cụm đình Hương Canh hiện nay còn lại với mặt bằng tổng thể khá vuông vắn. Khuôn viên mỗi đình được giới hạn trong một vòng tường bao có bề ngang đúng bằng bề ngang của toà Đại Đình, sân trước mỗi đình có độ dài bằng chiều ngang của toà Đại Đình. Do vậy chiều dài của khuôn viên gần gấp đôi chiều rộng. Trong các kiến trúc gỗ truyền thống của người Việt thường có bố cục mặt bằng theo một số kiểu chính - kiểu mà người ta thường gọi theo chữ Hán - đó là các kiểu bình đồ chữ nhất, chữ nhị, chữ tam, chữ công hoặc chữ môn. Tổng thể mặt bằng các đình Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh (Tiên Hường) hiện tại lại có bố cục hơi khác thường, tạm gọi mặt bằng kiểu chữ Vương”. Về bố cục kiểu bình đồ chữ “vương” hiện tại ở đây có thể nhận ra là: Toà Tiền tế (gồm 3 gian 2 chái) là nét ngang đầu tiên, toà Đại Đình (gồm 3 gian 2 chái) là nét ngang chính, Nhà Hậu (có 3 hoặc 5 gian) là nét ngang thứ ba. Các toà ống muống thứ nhất (gồm 2 gian dọc nối liền Tiền tế với Đại Đình) và toà ống muống thứ hai (có từ 2 đến 3 gian dọc, nối Đại Đình với Hậu cung) làm thành nét dọc của chữ “Vương”. Trong một số công trình nghiên cứu về đình, người ta căn cứ vào bố cục mặt bằng để có thể rút ra nhận xét về niên đại các công trình. Nhưng nếu căn cứ vào sơ đồ mặt bằng hiện tại như vậy thì khó có thể chính xác với cụm đình Hương Canh. Kết quả kháo sát thực địa cho thấy các kiến trúc đình ở đây khi mới khởi dựng chỉ có một toà Đại Đình (còn gọi là toà Đại bái). Nghĩa là lúc đầu, các đình có mặt bằng bình đồ chữ “nhất”.
Còn một thành phần nữa trong bố cục tổng thể của đình là Cổng đình.

Cổng đình hiện tại qua tu sửa đã làm sai lạc hoặc mất hẳn ý nghĩa cổng đình. Thông thường cổng đình được phân chia thành ba lối (lối chính, lối tả và lối hữu) bởi các cột trụ biểu kiểu tứ trụ và tường hoa. Đầu thế kỷ XX các nhà nghiên cứu còn ghi nhận cổng đình Hương Canh theo kiểu tứ trụ. Hiện nay cổng đình Tiên Canh (Tiên Hường) còn may mắn giữ được hai trụ biểu.
Nhưng hai đình kia (Ngọc Canh và Hương Canh) chỉ còn hai lối vào hai bên. Lối vào chính trang trọng bị xây bịt kín bàng một bức bình phong nửa âu nửa á.

Về kích thước mặt bằng các công trình kiến trúc gỗ chính của mỗi đình có số liệu như sau:
Đình Hương Canh: Toà Đại Đình 5 gian 2 chái (dĩ) dài 26,0 m, rộng 13,5m; gian chính dài 16,45m, rộng 8,7m.
Đình Ngọc Canh: Toà Tiền Tế gồm 5 gian, dài 20,25m, rộng 7,10 m
Đại đình gồm 5 gian 2 Chái, dài 24,Om, rộng 15,57m. Nhà hậu gồm 5 gian dài 10,0 m. rộng 7,0m.
Đình Tiên Canh: (Tiên Hường) Tiền tế dài 23,7m, rộng 10,0m. Đại đình có 5 gian 2 chái, dài 29,7m, rộng 14,0m. Nhà hậu 5 gian 2 chái, dài 16,1m, rộng 7,0m.
Về kết cấu kiến trúc, ngoại trừ một vài khác biệt nhỏ, các đình Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh (Tiên Hường) cơ bản là giống nhau. Để khỏi lặp lại, chúng tôi xin khảo tả kết cấu kiến trúc đình Hương Canh, đồng thời lưu ý đến những khác biệt so với hai đình kia.

Bộ khung
Toà Đại Đình (còn gọi là Đại bái hoặc Trung tế).
Bộ khung gỗ của kiến trúc đình trước hết là cột. Có 8 cột cái, mỗi cột cao 5m, chu vi 2,42m; 16 cột quân, mỗi cột cao 4,6m chu vi l,7m; 24 cột hiến, mỗi cột cao 2,16m, chu vi l,2m. Tất cả các cột đều làm bằng gỗ lim, được đẽo tạo thân cột hình “đầu cán cân - chân quân cờ”. Theo các cụ, trước đây, tất cả các cột ở cả 3 đình đều có tảng đá kê rất lớn. Nhưng do đình Hương và đình Ngọc khi tu sửa, nâng cốt lên cao, đá tảng bị chìm lấp (?). Hiện nay chỉ có đình Tiên vẫn còn những tảng đá kê chân cột, nhưng là những phiến đá tự nhiên, không được gia cố về mặt tạo dáng.

Trên cơ sở các cột, kiên kế theo chiều ngang lòng đình là kết cấu vì. Toà Đại đình có 4 bộ vì, tạo thành 3 gian chính. Đại đình Hương Canh còn 2 bộ vì lửng ở hai đầu hồi tạo thành 2 chái (còn gọi là dĩ), tạo cho lòng đình được mở rộng ra.
Liên kết vì nóc của ba đình ở Hương Canh hoàn toàn giống nhau. Đó là liên kết kiểu “vì kèo”, với cấu kiện chính là 2 chiếc Kẻ gác chéo nhau, chỗ chéo đỡ “thượng lương” còn lưng của nó đỡ từ 3 đến 4 “hoành mái”. Hỗ trợ cho 2 chiếc Kẻ này là một cột chốn, dân làng Hương Canh gọi là “trục thiên”. Cột chốn hay trục thiên đứng chân lên câu đầu, còn đầu cột vươn lên đỡ đúng vào nơi giao nhau của 2 chiếc Kẻ. Các vì lửng của 3 đình cũng giống nhau, liên kết theo kiểu “chồng rường”. Liên kết dọc công trình hay liên kết các bộ vì kể trên với nhau là hệ thống các loại “xà”. Các loại xà này như những đai giằng, hình thành khung liên kết ở các tầng, các lớp một cách vững chắc. ở đình Hương Canh có thể kể thêm một loại dai giằng nữa ở phía gần chân cột. Phần chân cột hiện vẫn còn các lỗ mộng của hệ thống sàn gỗ. Theo các dấu vết này, thì sàn gỗ các đình trước đây cao hơn nền đình khoảng 0,5 - 0,6 mét, phân thành hai cấp. Các cụ ở Hương Canh kể rằng sàn gỗ bị phá từ những năm 50 của thế kỷ XX. Ngoài lý do “tiêu thổ kháng chiến”, còn lý do lụt lội thường xuyên, gỗ ngày một hiếm, không có vật liệu thay thế. Quan sát kỹ các cột quân và dạ các xà ở toà đại đình, chúng tôi còn phát hiện ra nhiều lỗ mộng của hệ thống vách gỗ bao quanh đình, nay không còn nữa. Dân địa phương gọi là vách bưng hay ván đố lụa. Các cụ già cho biết, ván bưng ở đây có tháo ra được, mỗi khi làng có việc. Bởi thế, ta vẫn có thể coi kiến trúc đình Hương Canh thuộc loại kiến trúc mở.

Toà Tiền tế: Các toà tiền tế ở cả 3 đình Hương - Ngọc - Tiên đều có kết cấu khung gỗ tương tự nhau. Tiền tế 3 đình đều có 3 gian chính, hình thành bởi 4 bộ vì kiểu “vì nóc” và không có “vì lửng” như Đại đình, nên các chái nhỏ hơn. Điểm khác căn bản giữa Tiền tế và Đại đình chính là ở chỗ:
Tiền tế có kết cấu dựa trên 4 hàng cột chứ không phải 6 hàng cột. Do đó cột quân đóng vai trò của các cột hiên.
Nhà hậu: Nhà hậu 3 đình ở Hương Canh đều sử dụng 4 hàng cột và liên kế kiểu vì kèo - kẻ. Nhà hậu đình Ngọc Canh và Tiên Canh có 5 gian, nhà hậu đình Hương Canh có 3 gian.
Bộ mái
- Toà Đại đình có 4 mái: 2 mái chính (trước - sau), 2 mái hồi (phải - trái) tạo ra 4 góc giao nhau, để cùng uốn cong lên lao ra bốn góc đao - một kiểu kiến trúc kết cấu truyền thống Việt Nam. Về kết cấu bộ mái, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hệ thống hành mái. Một số nhà nghiên cứu thường viện dẫn quan niệm dân gian về “Sinh - lão - bệnh - tử” trong việc xác định số lượng của hoành mái. Quan niệm đúc kết theo công thức: tổng số hoành mái phải luôn luôn là 9 hoặc 13 (con số lẻ) để thượng lương rơi đúng vào “trực sinh”. Và khi có “trực sinh”, thì con người tránh được cái thứ bệnh “muôn thuở” và “tất yếu”, của mỗi con người.
Nhưng một số ngôi đình của người Việt không duy trì nghiêm ngặt quan niệm đó. Trên mái Đại đình (Đại bái) đình Hương có 8 hoành, đình Ngọc có 8 hoành, đình Tiên có 10 hoành. Như vậy cụm đình Hương canh đã vượt ra khỏi “Công thức nghiêm ngặt” trong kiến trúc đình làng của người Việt.

Nhìn tổng thể, mặt mái chính toà Đại đình có hình chiếc “rìu xoè cân” khổng lồ: đốc rìu là bờ nóc, phần giữa hơi võng xuống, còn hai đầu cong hất lên, hai cạnh bên của rìu chính là hai “bờ sối” cắt gần vuông góc với bờ nóc và chạy xuống một đoạn dài. Tiếp bờ sối là “bờ dải”, nơi tiếp giáp nhau tạo ra khúc ngoặt xoè ra hai bên. Từ đó vươn cong dần, độ vươn khá mềm mại để tạo nên “đầu đao”. Lưỡi rìu chính là đường chân mái hay “giọt gianh”.
- Bộ mái các nhà hậu tương tự như toà Đại đình.
- Mái Tiền tế 3 đình có khác nhau chút ít: Tiền tế đình Hương làm theo kiểu 2 tầng 8 mái. Tiền tế đình Ngọc và đình Tiên là dạng “biến thể” của kết cấu kiểu 2 tầng 8 mái (2 tầng ở mái trước, 1tầng ở mái sau).
Tóm lại, liên kết Đại đình, Tiền tế, Nhà hậu trong các đình Hương - Ngọc - Tiên qua bộ giá lắp, bộ mái thực sự mang kiểu bình đồ hình chữ “vương” (*).
(*) Tham khảo: “Đình Hương Canh Vĩnh Phúc” - Nguyễn Anh Tuấn Sở VTTH - TT Vĩnh Phúc - XB năm 1999.

Đình Thổ Tang (Vĩnh Tường)
Đình Thổ Tang có bố cục theo kiểu chữ “Đinh” (J) cửa hướng Tây Nam. Đình cao 7 mét tính từ nền tới nóc. Đình có 60 chiếc cột, cột cái to có đường kính 0,80m, cao tới 5m. Nền đình cao 0,80m, dài 25,8m, rộng 14,2m. Xung quanh nền đình bó đá xanh. Cấu trúc bộ khung gồm 6 hàng cột vì kèo kiểu “thượng rường hạ kẻ”, giống như các đình khác gồm 5 gian 2 dĩ, dạ tàu lá mái, lợp ngói mũi hài. Đình Thổ Tang là một trong những ngôi đình nổi tiếng của tỉnh Vĩnh Phúc, có niên đại sớm nhất trong số các ngôi đình hiện còn (Thế kỷ XVII). Ngôi đình còn nổi tiếng bởi bức hoành phi sơn son thếp vàng với 3 chữ Hoà Vi Quý.

Đình Hoà Loan (Vĩnh Tường)
Đình Hoà Loan ở thôn Hoà Loan, xã Lũng Hoà, huyện Vĩnh Tường.
Đình hiện nay ở vị trí trung tâm làng, có đường liên thôn bao bọc. Đình có kiến trúc bình đồ theo kiểu chữ “Đinh”, mặt quay về hứơng Tây Nam. Khuôn viên có tường gạch bao quanh, trước sân đình là hồ lớn, sau đình có hai cây đa cổ thụ, đường kính tán tới 40 mét, Đình Hoà Loan chỉ có toà Đại đình và Hậu cung.

Toà Đại đình 3 gian 2 dĩ, nền cao 0,60m, mái đua ra bốn phía. Đình có 4 đầu đao cong vút tạo cho dáng đình thêm mềm mại, lại có 4 đầu rồng trong tư thế vươn cao. Đại đình từ trái sang phải, có 8 hàng cột, từ trước về sau có 6 hàng cột, tổng số 48 cột (8 cột cái, 16 cột quân, 24 cột hiên). Đình Hoà Loan còn dấu vết dầm sàn, từ mép chân cột đến mộng sàn cao 0,70m.
Hậu cung kiến trúc khá đặc biệt: 8 mái như kiểu lầu, nhưng tuyệt nhiên không có lầu mà do kỹ thuật dùng giá con tiện nâng cao cột lên tạo xung quanh mái để nhìn từ xa tám góc, mái đao cong vút trông rất ngoạn mục (các cụ gọi là mái chồng diêm hoặc trùng thiên). Hậu cung có 4 hàng cột, trong đó 2 hàng cột lớn (6 chiếc), 3 hàng cột quân (10 chiếc). Do kiến trúc ống muống và vì kèo xỏ nên đình Hoà Loan có tổng số cột lên tới 64 chiếc. Tất cả các cột đình đều bào trơn đánh bóng, vật liệu liên kết vì kèo, xà ngang, xà dọc cùng bộ xương mái đều được làm bằng gỗ tứ thiết.

Đình Hùng Vĩ (Yên Lạc)
Làng Hùng Vĩ trước đây thuộc tổng Yên Lạc, huyện Yên Lạc. Nay thuộc xã Đồng Văn huyện Yên Lạc.
Đình xây dựng trên một khu đất đẹp, cửa hướng Tây Bắc. Trước đình có một sân rộng, nhiều cây cổ thụ bóng mát sum suê và một hệ thống ao rộng khiến cho đình khá cổ kính thâm nghiêm. Mặt bằng của đình là hình chữ “Đinh” gồm 2 toà: Đại đình và Hậu cung. Đại đình cấu trúc kiểu chồng diêm, 5 gian khá đồ sộ, nền dài 16m, rộng 8,4m. Cột cái cao 4,8m, cột quân cao 3,4m. Hậu cung 3 gian, nền dài 6,5m, rộng 5,5m. Toàn bộ đình được xây dựng cẩn thận, gia cố vững chãi.

Đình Bạch Trữ (Mê Linh)
Đình Bạch Trữ (xã Tiến Thắng) kiến trúc theo hình chữ “Vương”, gồm 3 toà nhà lớn (mỗi toà 5 gian 2 chái) song song với nhau. Thứ tự từ ngoài vào trong là: Tiền tế, Đại đình và Hậu cung. Các toà nhà nối thông với nhau bằng hai nhà ống muống, mỗi cái dài 3m. Trước đình là một cái ao bán nguyệt. Vào các kỳ lễ hội xưa, ao đình thường diễn ra tục “Tung bông” để ghi nhớ sự tích nàng Mị Nương (vợ Tản Viên Sơn Thánh) đã có công lập làng và dạy dân nghề trồng trọt, dệt vải.
Hai nhà Tiền tế và Đại đình còn lưu giữ được một số mảng chạm khắc gỗ từ thế kỷ XVII.

Đình Phú Mỹ (Mê Linh)
Hầu hết các đình làng người Việt đều hướng Tây hoặc chếch Tây - Đình Phú Mỹ (xã Tự Lập) quay hướng Đông Nam, theo hướng dòng chảy con sông Cà Lồ.
Đình có mặt bằng bố cục như sau: Ao đình - cổng trụ - sân - toà Đại đình hai bên đại đình có 2 toà tả vu hữu vu. Toà Đại đình gồm 5 gian. Kết cấu các vì theo kiểu “chồng rường - giá chiêng”. Bộ khung kết cấu chịu lực hoàn toàn bằng gỗ tốt. Các hệ thống vì được liên kết với nhau bởi các đai giằng là các “xà thượng”, “xà trung”, và “xà hạ”. Các cột được tạo tác theo kiểu “thượng thu - hạ thách”. Đình gồm 48 cột, các chân cột đều có hòn kê bằng đá. Theo dấu tích còn lại cho biết, trước kia đình có dầm sàn, nay đã mất. Đình còn lưu giữ nhiều bức chạm khắc gỗ mang phong cách thế kỷ XVII.

Đình Tiên Lữ (Lập Thạch)
Trong số những ngôi đình còn khá nguyên vẹn và có giá trị về nhiều mặt, đình Tiên Lữ là ngôi đình được xây dựng muộn hơn. Theo bản sắc phong triều Lê, đình được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XVIII, trùng tu và xây dựng lại giữa thế kỷ XIX.
Về kiến trúc, đình được xây dựng trong phạm vi khuôn viên rộng 600 m2, bao gồm toà Đại đình 5 gian, 2 dĩ, hai nhà tả vu hữu vu. Toà đại đình có lối kiến trúc 4 mái, tạo nên các đao đình với các hình đầu rồng uốn vút cong tạo thế uyển chuyển, thanh thoát, nhẹ nhàng của một công trình bề thế trang nghiêm. Phần thượng cung được cấu tạo theo phương pháp nâng sàn, trổ mái chứ không làm theo kiểu chuôi vồ (thường gọi là kiểu chữ “Đinh”).

Hệ thống chịu lực gồm 48 cột cùng với hệ thống xà dọc để liên kết 6 bộ vì kèo theo kiểu thức “chồng rường” và “thượng rường hạ kẻ”, với kỹ thuật mộng sàm” rất thuận lợi trong quá trình gia công lắp ghép. Đình còn lưu giữ nhiều công trình nghệ thuật chạm khắc gỗ.

Đền miếu
Về kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, ngoài Chùa - Tháp, đình làng, ở Vĩnh Phúc còn có một hệ thống đền, miếu phong phú đa dạng. Đền miếu thờ các thần có danh tiếng từ thời xa xưa như Tản Viên (thờ ở Đền Thính, Yên Lạc), thờ các nhân thần có công với nước với dân như Hai Bà Trưng (Đền Hai Bà Trưng, còn gọi là đền Hạ Lôi ở Mê Linh), Nguyễn Khoan (Đền Gia Loan ở Yên Lạc), Trần Nguyên Hãn (Đền thờ Tả tướng quốc ở Lập Thạch), Lãng Trung hầu Nguyễn Thai (Đền Phú Đa ở Vĩnh Tường) v.v... Toàn tỉnh có 122 đền, 95 miếu.

Đền Bắc Cung (Đền Thính ở Yên Lạc)
Đền ở xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, thờ Tản Viên Sơn Thánh.
Đền Bắc Cung, thường gọi là Đền Thính được khởi dựng cách đây hơn 300 năm. Lúc đầu chỉ là một miếu nhỏ đánh dấu nơi Tản Viên Sơn Thánh (vị tổ của Bách thần nước ta) du ngoạn và lưu trú. Đời vua Lý Nhân Tông (l072 - 1128) dựng thành nơi nhà vua cầu thọ. Trải qua các triều Lê, Nguyễn, đền Bắc Cung ngày một khang trang. Thời vua Minh Mạng (1820 - 1840) được sửa chữa. Năm 1900 (đời vua Thành Thái) nhà sư Thanh ất người xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường) được cử coi việc tu tạo đền. Hơn 20 năm sau công trình mới hoàn tất vào năm Khải Định thứ sáu (1921).

Hiện nay đền Bắc Cung gồm một toà nhà chính 3 bậc, mỗi bậc ba gian. Bậc cuối cùng tiếp giáp với Tiền tế, nơi mọi người đến lễ bái. Nhưng phía ngoài tiền tế, có một tiền sảnh 4 mái. Hai bên chính điện có một dãy tả mạc cho khách thập phương nghỉ tạm và sửa soạn đồ lễ. Hai đầu tả mạc, xây hai cái gác đối xứng nhau, một gác treo quả chuông cao 0,70m, đường kính 0,40m, trên khắc ngày đúc chuông là ngày 24 tháng chạp năm Duy Tân thứ V (1911); một gác treo một chiếc trống cao 0,60m , đường kính 0,50m.
Tam quan nối liền hai nhà gác nói trên với nhau, hình thành một cái bình phong trước đền. Cánh tường bên phải tam quan có gắn một lấm bia ghi công đức và những lần trùng tu.

Đền Hai Bà Trưng Hạ Lôi (Mê Linh)
Đền ở thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh. Một số nhà khảo cứu trước đây gọi là đền Hạ Lôi.
Đền thời Hai Bà Trưng và ông Thi Sách. Tương truyền đền làm ngay trên nền cung điện xưa của Trưng Nữ Vương. Đền đã qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc còn lại hiện nay thuộc nghệ thuật đời Nguyễn. Đền gồm một tam quan, một hồ sen nhỏ, một sân hẹp lát gạch, rồi đến tiền tế và hậu cung xây sát nhau hình chữ nhị (=). Sau đền còn một số đoạn thành đắp bằng đất, theo các cụ già ở Hạ Lôi thì đó là di tích của thành Mê Linh xa.
Cổ vật quý còn lại trong đền có hai con rồng đá và ba cỗ kiệu gỗ làm từ đời Lê.

Đền thờ Tả Tướng Quốc (Sơn Đông, Lập Thạch)
Đền ở thôn Đa Cai, xã Sơn Động.
Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Tả Tướng Quốc, phò Lê Lợi diệt giặc Minh, giải phóng đất nước, cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV. Đền được xây dựng trên một thế đất bằng phẳng rộng cao (dân làng gọi là thế Bạch Hổ), tương truyền là nơi phủ đệ của Trần Nguyên Hãn. Đền được kiến trúc theo kiểu chữ “Đinh”, xung quanh có tường bao góc tạo thành một khuôn viên vuông vắn.
Các công trình xây dựng gồm 3 phần: Cổng đền (tam quan), nhà Tiền tế và Hậu cung. Từ khi xây dựng đến nay đền đã được tu sửa nhiều lần và xây dựng thêm, chủ yếu vào thời Nguyễn. Nghệ thuật kiến trúc thể hiện rõ phong cách thời Nguyễn: Đục trơn, bào nhẵn, trang trí đơn giản.
Trong đền còn một số cổ vật: 2 hoành phi, 4 câu đối, 2 sập thờ, 1 ngai thờ, 1 án thư, 2 con hạc gỗ, 2 cây đèn gỗ, 1 mâm gỗ, 1 hòm sắt (dựnh 13 đạo sắc phong từ đời Lê Dụ Tông (Vĩnh Thịnh, 1705 - 1719) đến đời Nguyễn Bảo Đại (1926 - 1945), và 1 bản thần tích.
Liên quan tới di tích còn tương truyền có hai cổ vật: 1 thanh gươm và một phiến đá mài gơm.

Đền Phú Đa (Vĩnh Tường)
Trong số các ngôi đền hiện còn ở Vĩnh Phúc, đền Phú đa là vững chãi nhất. Đền ở xóm Giếng, xã Phú Đa, huyện Vĩnh Tường.
Đền thờ Lãng Trung Hầu Nguyễn Danh Thưởng. ông người quê Phú Đa, từ nhỏ đã học giỏi. Tài năng khoa bảng đã sớm đưa ông đến tột đỉnh sự nghiệp, kiêm nhiệm nhiều chức cả văn lẫn võ. ông không chỉ có công với triều đình mà còn rất hiếu nghĩa với cha mẹ tổ tiên và dân làng. Khi mất ông được dân làng lập đền thờ. ông không có con, nên trong dân gian vẫn coi ông là một hoạn quan, vì thế Đền Phú Đa còn gọi là Đền Quan Thị.

Đền làm vào thời Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786). Vật liệu làm đền chủ yếu là gỗ lim loại tốt và đá xanh. Từ khi xây dựng đến nay, khoảng 250 năm, chưa phải tu sửa lần nào. Để ca ngợi tính bền vững của công trình vĩnh cửu này, nhân dân ở đây có câu:

Bắt đền ra miếu Phú Đa
Bao giờ miếu đổ thì ta mới đền

Đền làm hình chữ nhị, nếu kể cả cổng thì hình chữ tam. Ngoài việc lựa chọn vật liệu tốt, mộng sàm chặt khít, điều đáng nói ở đây là việc xử lý nền móng cực kỳ đảm bảo. Vị trí đền ở giáp sông Hồng. Các nhà xây dựng trước đây đã gia cố cho khu vực xung quanh đền thành một khu đất cao như một quả đồi hình nón, phòng khi đê vỡ, nước lụt tràn vào sẽ bị cản dần từ xa và sức mạnh của nước càng giảm dần để khi đến đền thì không còn đáng sợ nữa. Nền đền lại chia làm nhiều cấp: thấp nhất là cổng đền, rồi đến Tiền đường và cuối cùng nền sinh từ là cao nhất. Các nền nối với nhau bằng nhiều bậc, lát những tảng đá xanh chạy dài suốt nền đền, vừa làm bậc lên xuống, vừa có tác dụng kè đất và cản nước. Việc đắp nhiều cấp như thế nhằm tạo cho nền có thể dựa vào nhau, làm tăng độ bền vững của kiến trúc. Giữa tiền đường và sinh từ lại có một cống thoát nước cũng được lát ba bề toàn bằng đá xanh (mặt cắt cống có hình chữ U). Nhờ đó mà nước thoát ra thêm nhanh, và không thể làm xói mòn nền đền được.
Tất cả những việc làm công phu ấy khiến cho đền Phú Đa trải mấy trăm năm nay, qua bao mưa lũ bão lụt sông Hồng mà không mảy may ngả nghiêng, sụt lở.

Đền Phú Đa còn là ngôi đền có nhiều di vật điêu khắc đá cổ, có giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử cao. Nếu chỉ tính những di vật có giá trị như một tác phẩm hoàn chỉnh chạm trổ trên đá thì đền Phú Đa đã có tới 48 tác phẩm, được sắp xếp theo yêu cầu thờ tự của đền từ cổng qua sân, đến nhà Tiền đường rồi nhà Sinh từ: cột trụ, chó, rồng, võ sĩ, ngựa, voi, sư tử, chậu, bàn tẩn, án gian, bát hương, bia, sập, án thư, ngai thờ... tất cả đều bằng đá, đều được đục chạm công phu, tỉ mỉ với những đường nét điêu luyện.

Đền Đuông (Bồ Sao - Vĩnh Tường)
Đền Đuông ở xã Bồ Sao (Vĩnh Tường) - Đền thờ “Đông Hải Long Vương”, phu nhân và con gái. Đông Hải Long Vương là con thứ 25 của Lạc Long Quân và âu Cơ, có công dạy dân vùng Bồ Sao trị thuỷ sông Hồng, chống lũ lụt bảo vệ mùa màng và đời sống nhân dân.
Chưa rõ đền được xây dựng từ thời nào, nhưng đã qua nhiều lần trùng tu, đến nay chỉ còn giữ được một số di vật đời Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786). Đa phần di tích được kiến thiết vào thời Nguyễn, thế kỷ XIX.
Đền được xây dựng trên một khu gò cao, xung quanh có tường bao bọc. Từ ngoài vào đền phải qua cổng gồm cổng chính và 2 cổng phụ xây bằng gạch. Tiếp theo là sân đền, chiều dài 30m, chiều rộng 10m. Hai bên tả mạc, hữu mạc đã đổ nát. Qua sân đến nhà Tiền tế, lầu Trống rồi đến Đại điện.

Đền chính kiến trúc kiểu chữ “công”. Đó là những ngôi nhà 3 gian được nối với nhau bằng một cầu nối. Toàn bộ kiến trúc có 48 cột, gồm 4 hàng tất cả đều làm bằng gỗ tứ thiết, đẽo tròn, bào nhẵn, dáng cột chân hơi cúp bung nở rồi thu dần lên phía đầu cột. Cả 8 cột đều được đặt lên những tảng đá xanh vuông vức, to dày, bảo đảm sức chịu đựng bộ mái nặng nề, ngay cả khi có nước lụt tràn vào nền nhà. Các vì kèo làm theo kiểu thức kẻ chuyền trên thượng lương chồng bồn. Toàn bộ kiến trúc gợi nhớ đến đền Phú Đa cũng xây dựng đời Lê, cũng sử dụng vật liệu đá xanh, gỗ tứ thiết bào tròn đóng bén, không chạm khắc cầu kỳ.

Nét độc đáo của đền Đuông là lầu Trống nối giữa Tiền tế với đền chính. Lầu Trống gọi theo tên chữ là Phương Đình, được cấu trúc hình lầu hai mái, theo kiểu thức chồng diêm, 4 mặt nền nhà bó vỉa bằng đá xanh. Lầu trống có 2 hàng cột gỗ, mỗi hàng 4 chiếc, cột ngoài cao 3,50m, đường kính 0,30m; cột trong cao 4,50m, đường kính 0,35m.
Hai tầng mái lợp ngói mũi hài, mái xoè rộng, uốn cong mềm mại ở góc, tạo nên làn sóng gợn lô nhô của mũi ngói. Tám góc mái bổng thanh thoát. Các đầu đao được gắn đắp hình rồng và điểm những hình lá lật rất cầu kỳ. Bờ nóc và bờ dải được đắp vữa hình hộp, có điểm xuyết gân lá như hình rồng. Lầu của Phương Đình xung quanh được trang trí những ô cửa hình con tiện được chế tạo với kỹ thuật tinh xảo. Bộ khung được kết cấu xà ngang, xà dọc mộng khớp xít xao tạo nên một công trình kiến trúc bề thế, chắc chắn, khang trang, có một quy mô đứng hàng đầu kiến trúc trong vùng.

Đi đôi với kiến trúc, đền Đuông còn lưu giữ được nhiều di vật mang dấu ấn cổ kính. Đáng chú ý có 11 pho tượng Đông Hải Long Vương và phu nhân tượng võ sĩ, tượng tả hữu văn võ, đắp bằng đất sét luyện với giấy bản, ngoài sơn son thiếp vàng. Có 2 con sư tử bằng gỗ để mộc, chạm khắc tỉ mỉ, tả thực với bờm râu sắc nét, dữ dội. Một đỉnh đồng nặng 15kg và 4 cây đèn đồng cao to, mầu đen bóng. Một cuốn ngọc phả và 14 đạo sắc phong từ đời Lê Cảnh Hưng năm thứ 5 (1745) đến đời Nguyễn Khải Định năm thứ 9 (1925).

Đền Tây Thiên (Tam Đảo)
Khu di tích danh thắng Tây Thiên có đủ 4 loại di tích: Di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh.
ở đây ta chỉ nói đến di tích kiến trúc nghệ thật. Về di tích kiến trúc nghệ thuật, ở Tây Thiên chùa có nhiều hơn đền (có đến 8 chùa, còn đền chỉ có vài ba đền), nhưng dân gian vẫn quen gọi là Đền Tây Thiên - đi lễ đền Tây Thiên không mấy ai nói đi lễ chùa Tây Thiên. Gọi như vậy, ngoài ý nghĩa tâm linh đền gợi vẻ thiêng hơn là chùa?) có lẽ dân gian còn muốn tỏ rõ ngưỡng mộ ngôi đền Tây Thiên (trong quần thể Đền và Chùa ở Tây Thiên) nơi thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu.
Cùng một địa điểm núi Thạch Bàn xã Sơn Đình (Tam Đảo), có 2 di tích:

Tây Thiên tự (Chùa Tây Thiên)
Chùa Tây Thiên chưa rõ năm xây dựng. Đã có 3 lần tu sửa vào triều Lê được ghi chép lại:
- Lần trùng tu năm Chính Hoà 25 (1704) đời vua Lê Hi Tông (Duy Hợp). Lần trùng tu này tập hợp được các hội chủ ở các huyện trấn Sơn Tây như: Bạch Hạc (nay là Vĩnh Tường), Yên Lạc, Tiên Phong (nay thuộc Hà Tây), Yên Lãng (nay thuộc Mê Linh), Phù Khang (tức Phù Ninh, nay thuộc Phú Thọ) Đan Phượng (Hà Tây). Có cả các hội chủ ngoại trấn như các huyện Thọ Xương (Đông Đô - Hà Nội), Kim Hoa (Bắc Ninh). Điều này chứng tỏ rằng ảnh hưởng của chùa Tây Thiên thời ấy đã rất sâu rộng.
- Lần trùng tu năm Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông (Duy Đường) dựng bia ghi tên người công đức ở đền Thõng.
- Lần trùng tu năm Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông (Duy Tường), do Tì Khưu Huệ Minh, tên chữ là Như Hiền, tên thật Nguyễn Viết Ninh, nguyên là thị nội giám, tước nghiêm Thọ Bá chủ trì, khởi xướng.

Tây Thiên từ (Đền Tây Thiên)
Đền Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu.
Các sắc phong và thần tích của Bà được lưu giữ ở đình thôn Đông Lộ và đình thôn Sơn Đình. Tuy nhiên cũng chỉ là sắc phong vào đời Nguyễn Tự Đức năm thứ 33 (1880) đến đời Khải Định thứ 9 (1924). Không thấy có các sắc phong đời Trần và đời Lê như các thư tịch đã chép.
Các di tích chùa và đền ở Tây Thiên, vì đã lâu đời nên đổ nát. Dân thôn Sơn Đình nghèo và ít người, không có khả năng sửa chữa. Năm Đinh Sửu (1937) viên chánh tổng tên là Hà Trọng Tuy, người làng Liễn Sơn (Lập Thạch) xin với dân để tập phúc chữa lại. Qui cách theo kiểu mới, hình chữ “Đinh” (J).

Miếu Tam Thánh (Bình Xuyên)
Miếu Tam Thánh tục gọi là miếu Ba Vị hoặc miếu Dốc Dinh nằm trên gò xóm Xuôi Ngành, làng Nội Phật, xã Tam Hợp. Miếu thờ bà Trần ả Dương và hai em trai là Bạch Thiên Sách và Bình Sơn, ba vị anh hùng phò tá Hai Bà Trưng đánh Tô Định năm 40-S.CN.
Cả khu vực miếu, rộng 4000 m2, ở tả ngạn Đầm Dinh, thông ra sông Tầm Bọt. Miếu dựng trên gò cao hoang vắng, thuộc sơn hệ Thanh Lanh Tam Đảo vào năm thứ 11 đời vua Gia Long (1812). Miếu vẫn giữ được nguyên trạng lúc ban đầu, chưa có sự trùng tu, thay đổi nào đáng kể.
ở mặt tiền, miếu có 4 cột lim cao 2m, đường kính 0,30m. Chân cột kê đá tảng đẽo gọt hình thang, cao 0,40m. Bốn cột này vừa có tác dụng đỡ mái, vừa để chia miếu thành 3 gian đều nhau. Phần cột lộ ra hiên, được đóng thêm diềm hai bên cạnh, hình thành 3 khung cửa. Mỗi gian lắp được 9 cánh cửa bức bàn. Thềm cao 0,40m, hiên rộng 1m, vừa đủ cho mái miếu trùm lên. Như vậy tuy cột cao có 2m, nhưng từ sân lên tới mũi ngói ngoài thềm, tính cả nền, đá kê cột và một diềm gỗ đón mái rộng 0,30m, thành thử chiều tiền sảnh được nâng mức 3m.
Chiều ngang của mặt tiền, ta đếm được 34 hàng gạch chạy dài từ Đông sang Tây, khoảng 9,50m. Hai đầu đao được đặt trên hai cột gạch vuông rất vững chắc, vừa tạo phương thẳng đứng cho hai cạnh miếu, vừa làm tường chấn hiên, vừa làm bảng ghi câu đối, đóng khung mặt tiền sảnh, trông cân đối, khang trang, nghiêm túc.

Mái miếu áp xuống hiên, thoạt nhìn có vẻ võng giữa, vì hai góc mái cong vút tới 1m, gắn hai con rồng bằng đất nung thành 2 đầu đao uốn vào trong. Đầu rồng chạm khắc rất tinh tế, sinh động, đỏ và nhẵn như chất liệu gạch ở Tháp Bình Sơn (Lập Thạch). Mái lợp ngói âm, kiểu vẩy rồng, lớp trên đè lớp dưới, mũi ngói thò ra 5cm, dày 2cm tì xuống dui, làm các lớp ngói phía trên không xô xuống được. Về đường nét, mái cấu tạo hình thang. Đáy lớn phía dưới, đáy nhỏ trên đỉnh nóc. Nhưng cạnh huyền không phải là một đường xiên liên tục, đến nửa mái thì nó bẻ thẳng lên, thu nóc hẹp lại. Lên đến đỉnh thì hàng ngói bò được đắp thành một cái nẹp cao l0cm, dày l0cm, gắn hai con rồng chầu mặt nguyệt. Toàn bộ mái trước và mái sau miếu ở phần nóc được chặn kỹ như thế, lại thu vào còn 6m; trong khi đó chân mái xoè ra dài tới l0m lại cong vểnh lên, làm mất đi cái dáng nặng nề, lại đủ sức chống gió bão mưa to, nên còn nguyên vẹn đến bây giờ. 

Hai đầu đốc xây toàn bằng loại gạch bìa kích cỡ 30cm x 18cm x 4cm. Từ mép góc tiền sảnh kéo tới mép tường hậu đếm được 23 viên gạch. Nghĩa là chiều rộng của miếu khoảng 7m, cộng thêm phần chuôi vồ thì rộng tới l0m. Từ mặt móng xây cao lên đến dạ quá giang có 21 hàng gạch, mạch dày khoảng 5cm, chất vữa làm bằng đất mối màu vàng rất dính, chộn với “cúm” đá ong và muối ăn. Chất vữa này khi khô thì trơ ra, rêu cỏ không mọc được, mối kiến không đục được. Mép gạch chìa ra ngoài, mạch xây lõm vào trong 2cm, trông rõ từng hàng gạch bóng đỏ, không cần chát áo tường. Gần 200 năm nay ba bề tường miếu phía Bắc, Tây và Đông tha hồ gió táp mưa sa vẫn cứ vững chắc, sạch sẽ và giữ nguyên màu đỏ. Nóc tường hồi xây một hàng gạch lá chìa ra 5cm để che mưa và làm bệ tì cho dầm ngang chạy suốt nóc vẩy và 4 vì kèo. Mái vẩy rộng 1,5m; dài 7m giữ khô ráo cho tất cả hệ thống tường hồi, dầm, yếm và kèo. Trên mái vẩy là đầu hồi, cấu tạo hình tam giác cân áp sát vào nóc miếu, được bịt kín bằng 4 tấm gỗ bắt mép vào nhau, tụt sâu vào 40cm để nóc phủ lên che chắn nước mưa.
Tường hậu hình chuôi vồ, chia 9,5m chiều ngang thành 3 phần đều nhau. Phần lồi ra phía sau 2,5m tạo thành hậu cung, đặt khám thờ bên trong. Tường hậu khám thờ dựng kín tận nóc. Nhìn chung, tường bao quanh miếu cao 2m nhưng lại thành 3m (kể cả chân đế và yếm mái); chiều cao đến nóc có 5m nhưng lại thành 6m vì đắp thêm rồng và xây “Tam Sơn”.

Phần chính của miếu là Nội miếu. Toàn miếu có 16 cột lim, đường kính 40cm. Cột chia làm 4 hàng ngang, tạo thành 3 gian. Từ mặt tiền vào tường hậu mỗi gian cũng có 4 hàng cột. Dãy cột giữa đấu đầu kèo vào nhau, tạo nóc cao 5m. Cột áp tường cao 2m. Các cột giữa đều phủ sơn ta rồi sơn son thếp vàng. Các cột cạnh để mộc, đầu kèo chìa ra hiên. Xà trung liên kết đầu các cột cạnh. Hàng cột xung quanh đều có một nửa lộ ra hiên, một nửa trong mội miếu. Xà ngưỡng liên kết các chân cột cạnh. Ngưỡng 2 gian bên cao 50cm, ngưỡng gian giữa cao 30cm. Phía trên cửa giữa có một hàng lan can thông gió, chống ẩm mốc.
Nhìn chung, với hệ thống cột gỗ lim, xà, kèo và các hệ thống đai giằng cùng với tường gạch cổ đã làm cho Miếu Tam Thánh trở thành một công trình kiến trúc bền vững còn giữ gần như nguyên vẹn đến tận ngày nay (*)
(*) Tư liệu của tác giả Nguyễn Quý Đôn.

Kiến trúc dân dụng
Về loại kiến trúc này chúng ta có thể kể thành cổ rồi đến nhà ở, cầu, quán, điếm, giếng, cổng làng...
ở đây cần nói rõ thêm, có một số nhà nghiên cứu tách thành cổ ra một mục riêng, gọi là “Kiến trúc quân sự - quốc phòng”: Tách chia như vậy cũng có phần đúng nhưng sẽ dẫn đến một hiện trạng khó lý giải: thành bao quanh một kinh đô (Thành Hà Nội, Thành Huế) thành bao quanh một thủ phủ đơn vị hành chính nhất định, như tỉnh, phủ, huyện, quận... thì có nhất thiết phải coi là kiến trúc quân sự - quốc phòng hay không, trong khi mọi người dân vẫn ra vào sinh hoạt hàng ngày?

Do thực tế ấy, chúng tôi đặt thành trong mục Kiến trúc dân dụng, mặc dù vẫn coi trọng tính chất quân sự của nó. Đúng vậy, Thành là loại kiến trúc quân sự, hoặc xây dựng ở thủ phủ một đơn vị hành chính, hoặc ở một vị trí quan trọng. Thời chiến, thành là một pháo đài, một công sự khổng lồ để vừa phòng thủ vừa làm bàn đạp tiến công. Thời bình, thành có tác dụng chống các loại kẻ thù trộm cướp để bảo vệ chính quyền, gìn giữ an ninh. Vì thế thành được xây rất kiên cố, thường cao và dày xung quanh lại đào hào sâu, nơi trũng thì hào có nước như ao sông, vừa có tác dụng ngăn giặc, vừa để luyện tập thuỷ binh. Ngoài hào lại được trồng những luỹ tre hoặc cây dày đặc. Có thành được xây nhiều lớp, lớp ngoài cùng bao quanh thành gọi là quách. Dân gian thường nói thành quách, thành trì, thành luỹ là như thế. Trên mặt thành thỉnh thoảng có những vọng canh. Trong thành thì tuỳ theo từng nơi mà bố trí đâu là sở lỵ của chính quyền, đâu là đồn binh, đâu là trại lính, nhà giam, sao cho tiện việc kiểm soát, bảo vệ và ứng phó nhanh với mọi tình huống.

Nước ta nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng đã có thành từ thời dựng nước. Thời đầu công nguyên có thành Mê Linh và thành Cự Triền của Hai Bà Trưng. Thời kỳ đấu tranh chống phong kiến phương Bắc giải phóng dân tộc có thành Gia Ninh (Bạch Hạc ngày nay) là lỵ sở của nhiều đời; thành Điển Triệt xã Tứ Yên (Lập Thạch) bên cạnh hồ Điển Triệt do Lý Bôn xây dựng làm căn cứ chống quân nhà Lương (Thế kỷ VI). Thời Thập nhị sứ quân (Thế kỷ X) có thành Nguyễn Khoan ở xã Minh Tân (Yên Lạc); thành Kiều Công Hãn ở xã Tam Phúc (Vĩnh Tường). Từ thời Lý - Trần - Lê - Mạc - Nguyễn các lộ trấn, tỉnh, phủ, huyện to nhỏ đều có thành. Trong số các thành đắp thời Lê, to nhất là thành Quận Hẻo (Nguyễn Danh Phương). Đến thời nhà Nguyễn, kiến trúc thành được cải tiến, thành xây bằng gạch hay đá ong, có pháo đài và súng thần công bảo vệ. Nhưng đến nay, các thành cổ thuộc phạm vi Vĩnh Phúc hầu như không còn nữa, có thành chỉ còn tên gọi, có thành chỉ còn vết tích nên khó mà giới thiệu được.

Dựa vào thư tịch cổ và lời kể dân gian, khảo tả một số thành tiêu biểu.
- Thành huyện Bạch Hạc (sau là phủ Vĩnh Tường). Về thành này, sách “Sơn Tây thành trì tỉnh Vĩnh An hạt sự tích” có chép như sau: “ở thôn Trình xã Yên Nhiên (nay thuộc xã Vũ Di, Vĩnh Tường). Đông tây ba mươi hai dặm, Nam Bắc mười một dặm. Đông đến biên giới huyện Yên Lạc mười sáu dặm, Nam đến biên giới huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai đối ngạn sông Bạch Hạc (sông Hồng) năm dặm, Bắc đến huyện Tam Dương sáu dặm. Các bên tả hữu thành đều mười hai trượng. Mặt trước xây ghạch đá. Cửa bên hữu có vọng lâu. Cửa Nam, cửa Bắc có hai pháo đài, mặt khoát (tức đường kính) hai mươi thước, dài hai mươi chín thước, cao ba mươi thước; một vọng gác cao - dài - khoát đều mười thước. Trong thành có một toà công đường (nhà ngói); ba toà tư đường (nhà riêng cho tri huyện ở); nhà quân, nhà tù mỗi loại một (nhà tranh). Thành nguyên tại xã Nhật Chiểu rồi về xã Văn Trưng (nay là Tứ Trưng). Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) dời đến lỵ sở này, trong thành rộng mười chín mẫu hai sào mười hai thước”.
Thành các huyện Tam Dương, Lập Thạch, Bình Xuyên cũng được miêu tả tương tự như trên.

Thành Cự Triền
Thành Cự Triền còn gọi là thành Trại, thành Cờ xưa thuộc đất làng Cư An xã Tam Đồng, huyện Yên Lãng; nay thuộc thôn Tứ Mỹ xã Tự Lập huyện Mê Linh.
Tương tuyền đây là thành của Bà Trưng Nhị.
Thành cách bờ sông Nguyệt Đức hiện nay chừng 2 km về phía Tây Bắc, cách làng Hạ Lôi (nơi có đền thờ Hai Bà, còn có những vết tích khu thành tương truyền là thành Mê Linh) hơn 6 km về phía Đông.
Thành hình bán nguyệt (gần như bầu dục), có chiều dài 200 m, rộng 170m (gần mười mẫu Bắc Bộ), không kể hào xung quanh. Mặt thành hiện có chỗ rộng tới 10m, chỗ cao nhất 1,50m so với mặt hào. Hiện nay hai đầu thành về phía nam sông Nguyệt Đức, phía bắc sông Hồng, còn có hai khu đất được đắp vòng ra ngoài thành ước gần một sào Bắc Bộ. Có thể 2 khu này là 2 đồn trú quân vừa làm nhiệm vụ giữ hai mặt sông. Giữa vòng thành, cạnh đồn trú quân phía nam có một gò đất cao, ở đỉnh gò còn vết chân móng ngôi miếu cổ thờ Bà Trưng Nhị.

Theo truyền thuyết, đây là khu cột cờ (nên gọi là Thành Cờ), xưa Bà Trưng Nhị cùng tướng sĩ thường ra cầu khấn thiên địa phù hộ nghĩa quân xuất trận đại thắng, cũng có thể đây là một đài quan sát. Cũng ở giữa vòng thành về phía đông (hướng về làng Cư An) có một quãng thành bị một hồ nước cắt ngang, một đầu thành được đắp vòng ra ngoài hồ nước, một đầu thành trên có gò cao. Có thể đây là cổng thành, nếu muốn ra vào trong ngoài thành thì phải qua hồ nước đó, cái gò cao trên đầu thành cụt cũng là một vọng gác kiểm soát người qua lại cổng thành. Trên hồ nước xưa có thể được bắc cầu để qua lại, khi không cần thiết thì rút cầu đi. Trong nội thành đối diện với cổng còn một nền đất rất bằng phẳng hình chữ nhật như một nền nhà. Góc phía Bắc còn một ao nước chừng một sào Bắc Bộ, hiện còn sâu 0,80 m. Các cụ nói đây là giếng nước ăn.

Đất đắp thành là một loại đất phù sa màu nâu lẫn đất sét và khai thác ngay quanh hào đắp lên. Thành đắp trên một di chỉ khảo cổ học thuộc thời đại đồng thau, nên trong thành cũng như trên nền thành còn tìm được nhiều mảnh gốm và rỉ đồng.
Hào bao quanh thành đã bị san lấp nên rất khó quan sát. Đến nay có chỗ còn rộng tới 10 m, sâu 0,60 m so với mặt ruộng xung quanh, nhưng cũng có chỗ đã san gần bằng nhau. Bên ngoài khu thành, tương truyền ngày xưa còn có giếng tắm của Nhị Vương, kê một tảng đá trắng rất to, có đầm bến nơi có thuyền của quân sĩ trong thành ra vào, có dinh nhà Nương, có nền Vua... Nay chỉ còn là tên đất, tên đồng.

Thành Quận Hẻo
Đây là một khu đại đồn của nghĩa quân nông dân Vĩnh Phúc thủ lĩnh là Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương, thiết lập làm căn cứ thủ hiểm ở thung lũng Thanh Lanh - Ngọc Bội, thuộc xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên rộng khoảng 700 mẫu Bắc Bộ.
Nguyễn Danh Phương (nhân dân thường gọi là Quận Hẻo) người xã Tiên Sơn, phường Hội Hợp thị xã Vĩnh Yên. ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng được bố mẹ dành dụm nuôi cho ăn học. Trước thực tế cuộc sống nhân dân lúc đó, Nguyễn Danh Phương coi khinh việc thi cử đỗ đạt, không làm quan với triều đình. Sau khi hai thủ lĩnh Tế và Bồng dấy binh khởi nghĩa, ông đã đi theo và không bao lâu trở thành bộ tướng mưu lược và dũng cảm.

Năm 1470 khi thủ lĩnh Tế và Bồng bị bắt, Nguyễn Danh Phương thu thập tàn quân về vùng Cao Phong - Đình Chu (Lập Thạch), tiếp tục dâng cao cờ nghĩa. Từ đây ông trở thành thủ lĩnh duy nhất của phong trào nông dân khởi nghĩa Vĩnh Phúc thế kỷ XVIII. ông tập trung quân đào hào đắp luỹ, xây dựng khu căn cứ quân sự bao gồm đồn Trại Quan, đập chắn nước, đồn Bãi Cát rộng gần 100 mẫu Bắc Bộ thuộc 3 xã Cao Phong, Đình Chu, Đại Thắng (Lập Thạch), từ đây nghĩa quân toả đi đánh phá các châu huyện quanh vùng; có lúc đã chiếm được Việt Trì, Thanh Lãng, núi Độc Tôn gây cho triều đình nhiều khó khăn bối rối. Thừa thắng đầu năm 1744, Nguyễn Danh Phương đã trực tiếp dẫn quân tiến đánh thành Bạch Hạc, nhưng không chiếm được lại bị tổn thất nên phải rút về. ông đưa toàn bộ lực lượng đến vùng Thanh Lanh - Ngọc Bội. Căn cứ này gọi là Đại Đồn, nằm gọn trong thung lũng, hai bên và phía cuối thung lũng đều là núi cao, hiểm trở. Vào Đại Đồn chỉ có con đường độc đạo từ cửa thung lũng đi vào. ở đây Quận Hẻo đã cho đắp một thành cao rộng chắn ngang. Thành chặn dòng suối Thanh Lanh cho nước dâng lên, biến thung lũng thành một hồ nước lớn, quân sĩ ra vào đều phải dùng thuyền. Phía trong Đại Đồn có kho quân lương khí giới, có đồi quần ngựa cho binh sĩ luyện tập, có kho Đúc tiền, Đấu đong quân, Vực tắm voi.v.v...

Ngoài Đại Đồn ra, quân Quận Hẻo còn đóng trung đồn ở Hương Canh (Bình Xuyên), tiền đồn ở Thanh Tước (Mê Linh). Các đồn này đều được phòng thủ chu đáo. Vùng Mê Linh, Bình Xuyên xưa có câu: “Ba làng Kẻ Đám, tám làng Kẻ He, không đánh nổi Quận Què ở núi Thanh Tước”, ca ngợi sức chiến đấu mạnh mẽ của những đồn quân này.

Từ Đại Đồn, nghĩa quân đã toả ra hoạt động khắp xung quanh, kiểm soát các huyện Yên Lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc (Vĩnh Tường), Lập Thạch, Bình Xuyên, Phù Ninh, Tam Dương (thuộc phủ Tam Đới), Sơn Vi, Thanh Ba, Cẩm Khê Hạ Hoà (thuộc phủ Lâm Thao), các huyện ven sông đà như Đà Dương (Sơn Tây), lan sang hai trấn Thái Nguyên, Tuyên Quang.
Nguyễn Danh Phương nghiễm nhiên trở thành địch quốc của triều đình.

Khu Đại đồn của Quận Hẻo ngày nay còn một số di tích. Từ ngoài thung lũng đi vào, nổi lên thành Quận Hẻo, nhân dân còn gọi là Bờ Vòng Quận Hẻo hoặc Bờ Vòng Thanh Lanh. Thành đứng sừng sững như một con đê lớn, dấu tích hiện còn dài hơn 700m, rộng 30m, mặt thành có chỗ rộng 10m, hẹp nhất cũng 7m, cao trung bình 8m. Đương thời Quận Hẻo, thành được đắp liền mạch, suốt từ sườn núi bên phải sang sườn núi bên trái, chặn dòng suối Thanh Lanh cho nước dâng lên, biến một phần thung lũng thành hồ lớn, vừa là chiến hào thiên nhiên bảo vệ Đại Đồn vừa là đập nước cho cánh đồng hạ lưu. Cuối cùng đến doanh trại.
Thành Quận Hẻo xưa nay vẫn được coi là một Đại thành.

Muốn hiểu đa chiều và đầy đủ về kiến trúc dân dụng phải tìm hiểu nhà cửa của nhân dân lao động, tiêu biểu là nhà của người Việt (Kinh), sau đó sẽ mở rộng ra các dân tộc ít người anh em. Nhìn tổng thể kiến trúc dân dụng bao gồm nhà ở dân gian kiến trúc công cộng dân gian như cầu, cống, quán, điếm, cổng làng...
Riêng về nhà ở có nhiều phương thức sắp xếp và phân loại:

- Phân loại theo vùng kinh tế và phương thức sản xuất: nhà ở nông thôn và nhà ở thành thị.
- Phân loại theo dân tộc: Việt (Kinh), Cao Lan, Sán Dìu...
- Phân loại theo vùng địa lý: miền xuôi, miền trung, miền núi...
- Phân loại theo hệ thống kết cấu và vật liệu xây dựng: nhà tranh tre, nhà gỗ, nhà gạch ngói...
- Phân loại theo mặt bằng không gian: nhà nền đất, nhà sàn, hoặc vừa đất vừa sàn.

ở Vĩnh Phúc, đồng bào Cao Lan ở nhà sàn. Vật liệu làm nhà chủ yếu là gỗ, tre, nứa, lá... Cột nhà bằng gỗ, vuông hoặc tròn, ít khi được bào nhẵn, có khi chôn xuống đất, có khi kê đá. Kiểu kiến trúc nhà sàn thông thường là tứ trụ và cột đội, vì kèo xuống suốt chân mái. Cột, xà được mộng sàm chặt chẽ: ít khi chạm trổ. Sàn nhà thường cao một đầu một với (khoảng 1,80m). Sàn được lát hai lớp, gác lên trên những dầm gỗ chắc. Lớp dưới là những cây vầu (để cả cây) sát vào nhau. Lớp trên cũng bằng vầu, mai hay bương được chích dọc thân cây thành những thanh nhỏ gọi là dát. Vách cũng được che bằng các loại dát như ở sàn, có gia đình che bằng phên nứa. Mái nhà sàn lợp bằng lá cọ, phên nứa hay rơm rạ, tuỳ theo nguồn vật liệu của địa phương.

Dưới gầm sàn, tức là nền đất thường để chăn nuôi các loại gia súc như trâu, ngựa, lợn, gà... Người ở trên sàn, có thang lên xuống ở đầu nhà. Thông thường thì cả lòng nhà thông nhau. Thỉnh thoảng có gia đình làm một buồng nhỏ ở góc. Giữa nhà đặt một tấm ván rộng, xung quang xếp những hòn dá để làm bếp. Trên bếp có một gác gọi là “dựa” để cất các loại lương thực hay đồ dùng. Đối diện với bếp lửa phía trong vách là bàn thờ gia tiên. Mỗi nhà có một sân ở phía trước hoặc đầu nhà.

Người Dao ở Lập Thạch làm nhà nửa sàn nửa đất. Kiến trúc tương tự nhà sàn, chỉ khác một chút là nền nhà đặt một nửa trên mặt đất (thường là sờn đồi thoai thoải), một nửa trên sàn tre, gỗ.
Người Sán Dìu ở nhà đất (nhà trệt) như người Kinh. Quy mô to nhỏ khác nhau, người nghèo thì chỉ làm nhà tre, người giàu thì làm nhà gỗ, nhà gạch ngói...
Dầu nhà sàn hay nhà đất, ngay từ hình mẫu đơn giản nhất là lều và chòi ở tạm đã phải có đủ 3 bộ phận là “Khung sườn”, “mái che”, và “vách tường”.

Trong đó quan trọng nhất là khung tường và mái che, còn tường vách có thể không có.
Khung sườn là sự liên kết của các cấu kiện bằng tre hoặc gỗ, trong đó quan trọng nhất là cột, kèo, xà... theo các mặt phẳng ngang và dọc cắt nhau vuông góc. Sự liên kết trong một mặt phẳng dọc thẳng đứng (từ trước vào sau) tạo nên một vì. Tuỳ theo sự phát triển từ lều, chòi. quán, nhà phụ, nhà chính mà bộ vì cũng đi từ đơn giản đến phức tạp, trong đó kỹ thuật liên kết cũng tiến từ buộc, ngoàm đến mộng mẹo. Dọc theo sự phát triển của ngôi nhà từ nhỏ đến lớn, từ đơn sơ đến phức tạp, từ công trình phụ đến công trình chính, có thể thấy được sự phát triển của các kiểu vì kèo.

Đơn giản nhất là kiểu “kèo ba cột”: cột giữa nhô cao, cột trước và sau thấp bằng nhau. Từ kiểu vì kèo ba cột, được bỏ hẳn cột giữa, tăng cường cái ruỗi thành quá giang, ta được kiểu “vì kèo suốt quá giang”. Có khi trụ giữa không kéo tới chỏm kèo (đỉnh nóc), mà đỉnh trụ đội một đòn cánh ác ngắn song song với quá giang để đỡ lưng chừng hai kèo, gọi là “vì kèo cầu - cánh ác”. Sau này do nhu cầu sinh hoạt, ngôi nhà chính của mỗi gia đình cần được mở rộng lòng, giảm cột cho đỡ vướng, người ta sáng tạo ra các kiểu “Vì kèo suốt - giá chiêng”, “Vì trên kèo - dưới kèo” hoặc “vì tiền kẻ - hậu bẩy”.v.v...

Thời trước, người dân Vĩnh Phúc còn nghèo nên nhà tre là phổ biến. Tre làm nhà là các loại tre diễn, tre hoá, tre lộc ngộc... thường được ngâm kỹ rồi mới làm. Cột nhà có khi chôn xuống đất, có khi kê gạch đá. Xà là cây tre nhỏ, thường là hóp, luồn qua cột gọi là duổi đôi, tức là gồm 2 cây duổi kẹp vào cột, có một thanh tre vót nhọn luồn qua gọi là con sỏ. Tính gian thì có nhà làm một gian hai chái gọi là “Nhất biến tam”; có nhà làm ba gian không chái gọi là “ba gian bằng đầu” hay ba gian đứng; có nhà lại làm hai gian hai trái. Vách nhà thường đắp bằng đất, đôi khi che bằng phên nứa. Mái nhà lợp bằng lá cọ, cỏ tranh hoặc lợp rạ. Dân gian có câu “nhà tranh vách đất” là phản ánh thực tế đó. Hướng nhà thường quay về hướng Nam để đón gió mát. “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam”, đó là quan niệm có tính nguyên tắc, một điều kiện quan trọng khi làm nhà. Tuy chỉ là tre nứa và các vật liệu bình thường, nhưng nhân dân ta vẫn dựng được những ngôi nhà đẹp. Một mái cọ lợp vảy cá; những vì kèo, duỗi chặt khít; những cột được bào gọt, đánh bóng tỉ mỉ; những tấm liếp đan các hình hoa văn ở hè, giương lên có thể làm trần che bụi, buông xuống thì che nắng dội, mưa hắt. Quanh nhà trồng các loại cây vừa cho ăn quả vừa cho bóng mát, vừa làm cảnh nhà thêm hài hoà, có sức sống. Nhân dân ta thường nói: “Phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối”, hoặc “Nhà ngói cây mít” Tất cả đều thể hiện óc thẩm mỹ và kinh nghiệm của nhân dân ta áp dụng vào kiến trúc và trang trí nhà cửa.

Trước đây, chỉ những gia đình giàu có mới làm được nhà gỗ. Người trung lưu thì gỗ xoan, người giàu có hơn thì gỗ mít, gỗ lim và có thể làm hai nhà, nhà trên và nhà dưới (còn gọi là nhà ngang) nối với nhau thành hình thước thợ.
ở buổi đầu thời Lý, trong khí thế đi lên của nhà nước Đại Việt, nhiều nhà dân muốn có ngôi nhà ngói khang trang. Thể theo yêu cầu ấy, năm 1084, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu “Cho thiên hạ nung ngói lợp nhà” (Đại Việt sử ký toàn thư). Theo truyền thống kiến trúc, nhà lợp ngói phải là nhà gỗ. Do được luật pháp cho phép, nhà ngói sân gạch xuất hiện ồ ạt, các công trình chùa tháp trong thôn dã không còn địa vị độc tôn. Vì vậy, năm 1097, vẫn vua Lý Nhân Tông lại ra lệnh “cấm dân gian bách tính không được xây nhà ngói, làm thuyền lớn” (Việt sử lược). Cuối thời Trần sang triều Lê cũng lại có nhà ngói nhưng còn ít. Phép vua cấm không cho dân thường làm nhà hình chữ công hay chữ môn. Luật Gia Long, điều 156 qui định nhà dân không được chồng hai mái (kiểu chồng diêm), phải thấp hơn kiệu quan, nhà không được chạm trổ, trừ một vài chỗ như thượng lương và đầu các vì kèo. Cho nên dù giầu có đến đâu, người dân cũng chỉ được làm nhà gỗ năm gian hai chái, chạm trổ đơn sơ.

Gọi là nhà gỗ vì đa phần các vật liệu làm nhà bằng gỗ. So với nhà tre, nhà gỗ được thiết kế, gia công kỹ càng hơn. Có nhà gỗ lợp lá cọ, vách gỗ (gọi là vách lịa hay ván lịa ). Nhà giầu hơn thì xây tường gạch, lợp ngói mũi hài. Là nhà của những người khá giả nên trong nhà nhiều thứ bài trí hơn, song lại lủng củng, rườm rà. Gian giữa kê bàn thờ với nhiều đồ thờ uy nghi. Trước bàn thờ là sập gụ, tủ chè, tràng kỷ... Rồi hoành phi, câu đối treo la liệt. Gian đầu làm buồng, vừa để cho đàn bà con gái ở, vừa để chứa các loại của nả như thóc gạo, nồi đồng, mâm thau. Buồng rất tối, không có cửa sổ, nếu có thì cũng rất nhỏ vì sợ trộm cướp.

Ngoài việc xây nhà ở, người dân Vĩnh Phúc còn chú ý đến việc bắc cầu để đi lại cho dễ dàng, vì trong khu vực có nhiều ngòi, kênh, mương. Cầu có nhiều loại to nhỏ khác nhau. Có cầu bằng đá, bằng gỗ hay bằng tre. Có cầu có mái che như nhà, vừa để giữ cầu bền lâu, vừa làm chỗ nghỉ chân cho khách qua đường. Nhiều cầu có giá trị kiến trúc cao.

Địa phương có nhiều cầu đá nhất là xã Hợp Thịnh (Tam Dương). Trước đây Hợp Thịnh có 7 cầu đá. Nhân dân đã dỡ mang về trong thôn xóm, hiện chỉ còn 2 chiếc. Tương truyền các cầu đá ở đây do Quận Hẻo làm từ thế kỷ XVIII.
Tiêu biểu là cầu bắc qua Ngòi Giuộc, cầu này dài 6m chia làm bốn ô (nhịp) mỗi ô dài 1,50m. Toàn cầu có 5 dầm bắc ngang, mỗi cái dài 2,13m, dầy 0,25m, rộng 0,29m. Hai đầu vát và chạm mây cụm. Mỗi dầm có hai cột tròn, đường kính 0,96m. Cột cầu và dầm cầu được lắp với nhau bằng mộng tròn. Trên cầu được lát những phiến đá cưa vuông vức ghép với nhau thành bốn hàng dọc theo cầu, mỗi phiến đá dài 1,60m, dày 0,24m, rộng 0,30. Cầu đá Ngòi Giuộc tuy chạm trổ đơn sơ, song kiến trúc vững chãi, hiện nay nhân dân vẫn sử dụng.

Về loại kiến trúc dân dụng, trên vùng quê Vĩnh Phúc, còn phải kể đến những chiếc giếng cổ xưa. Gần như làng xã nào ở Vĩnh Phúc cũng còn những chiếc giếng này. Không rõ người xưa chọn mạch bằng cái gì, mà giếng nào cũng nhiều nước, trong vắt, dùng pha chè mạn hoặc hãm chè tươi (chè xanh) đều rất thơm ngon, không làm mất vị chè. Phần lớn các giếng cổ này đều có cách xây dựng giống nhau: đáy giếng lát gạch hoặc xếp đá xanh, sao cho nước mạch vẫn đùn lên được, nhưng lại hạn chế bùn đất bị xục. Từ đáy giếng lên đến nền giếng xếp gạch, không có vữa kết dính. Gạch nung già, không thấy rêu bám. Có giếng còn được xếp bằng loại gạch chuyên dùng cho xây giếng, viên gạch cong hình cánh cung, hai đầu có mộng khớp vào nhau. Thành giếng tròn đều và rất khoẻ. Tang giếng được ghép bằng những tấm đá xanh cao từ 0,80m đến 1m, dầy 0,20m. Có giếng tang tròn, có giếng tang hình lục giác. Do tang giếng bằng đá, nên nhiều nơi gọi là giếng đá. Trong những làng xã mà chúng tôi đã đi điền dã, làng Thổ Tang có nhiều giếng đá nhất. Thường các làng chỉ có một hoặc hai giếng đá. ở Thổ Tang có tới 7 giếng đá (giếng Cả, giếng Lá, giếng Trà, giếng Tự, giếng Phú Học....) Các giếng đá này chưa rõ có từ bao giờ, chỉ biết rằng người dân đi múc nước (ở Thổ Tang gọi là kín nước), tì dây thừng, dây chạc vào tang giếng bằng đá, ngày nọ qua ngày kia, đến mức đá mòn lõm vào, chìm lọt cả ngón tay người lớn.

Điêu khắc
Điêu khắc và kiến trúc
có quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau. Từ một công trình kiến trúc lớn đến những vật dùng hàng ngày trong nhà không thể không có sự tham gia của môn điêu khắc. Điêu khắc cổ dân gian có các loại hình như: tượng tròn, khắc chìm, phù điêu chạm nổi hay đục thủng chạm bong... Các tác phẩm điêu khắc cổ hiện còn ở Vĩnh Phúc chủ yếu tập trung ở các công trình kiến trúc tôn giáo, có nhiều ở hai dạng chất liệu Đá và Gỗ, ngoài ra là đất nung, đất luyện, đồng v.v...

Điêu khắc đá
Các đình chùa đền miếu đều ít nhiều có các di vật bằng đá như tượng đá, tảng kê cột bằng đá, bệ đá, bia đá, cây hương đá...
Theo các thư tịch cổ và lời kể dân gian, ở Vĩnh Phúc có rất nhiều công trình điêu khắc đá cổ dân gian có giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử cao. Song một phần vì giặc giã, chiến tranh tàn phá; một phần do nhân dân ta chưa nhận thức hết giá trị của các công trình đá ấy, đã phá vỡ và sử dụng chúng vào những công việc cần thiết trước mắt; vì thế hiện nay các di vật đá còn lại không nhiều, di vật có giá trị nghệ thuật lại càng ít.
Dưới đây xin giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu còn lại trong tỉnh.

Chạm đá ở đền Phú Đa (Vĩnh Tường). Đây là ngôi đền khoẻ và có nhiều di vật đá nhất trong số các kiến trúc cổ hiện còn ở Vĩnh Phúc. Giới thiệu giá trị điêu khắc đá ở đền Phú Đa, một số nhà nghiên cứu thường trình bày theo các trình tự sau:
Điêu khắc trong kiến trúc
ở cổng đền khi đi qua một khoảng đất rộng để vào cổng Tam quan, sừng sững hai cột trụ bằng đá, mỗi cột có chiều cao tổng thể là 4,20 m được bố cục làm ba phần: Đế trụ là một tảng đá nguyên khối, được gia công thành hình chóp cụt 4 mặt, giật cấp, chỗ rộng nhất mỗi chiều là 60 cm, cao 40 cm.

Tiếp phía trên là thân trụ, có mặt hình vuông, mỗi chiều rộng 40 cm. Phần thân trụ cao 2,95 m cũng là đá nguyên khối. Mặt trước của trụ đá có khắc nổi 2 vế của một câu đối. Dưới hàng chữ có một ô vuông chạm nổi hình một con Long mã đang tung vó bay trong mây, phía trên hàng chữ cũng có một ô vuông chạm nổi hình chim phượng ẩn hiện sau những giải vân mây. Phần trên cùng của trụ đá là tượng một con Nghê ở tư thế quì chầu vào trong đền, với thân hình vạm vỡ, cơ bắp cuồn cuộn, lông bờm xù ra coi dữ tợn. Hai con Nghê hai bên ngoảnh mặt vào nhau, tăng thêm vẻ sinh động về kiểu dáng của mô típ tượng tròn truyền thống.

Bậc đá được bố trí ở những nơi đi lại nhiều, đều là đá khối xanh vuông vức có kích cỡ hợp lý với từng vị trí sử dụng.
Rồng đá: Đền có 2 rồng đá ở bậc tam cấp cổng Tam quan có chiều dài 1,90 m và dày 0,20 m, được tạo từ đá phiến nguyên khối. Đầu rồng hướng ra ngoài, mũi rất to, mắt lồi, răng to, ức rất khoẻ, râu, bờm được chạm khắc là những dải vân mây với lối bố cục thoáng và hài hoà.
Cuối cùng là 4 cột đá trong hệ thống chịu lực gồm 8 cột của cổng Tam quan. Bốn cột đá đều có cùng kích thước: cao 2m, hình trụ vuông, chiều rộng một mặt là 36 cm, các cạnh được soi lót làm bớt đi dáng vẻ gẫy góc nặng nề. Phía trước cũng tạo ô hình chữ nhật theo chiều cao cột để khắc chữ. Bốn cột đá này cùng 4 cột gỗ to tròn bằng gỗ tốt đã tạo nên một hệ thống chịu lực vững chắc.

Điêu khắc tượng tròn
Không kể hai con nghê trên cột trục cổng đền như đã nêu trên, đền Phú Đa nay còn lưu giữ 20 pho tượng tròn bao gồm các loại tượng người, tượng động vật, voi, ngựa, chó đá, nghê chầu.
Về tượng người, đáng chú ý có đôi tượng võ sĩ thứ nhất, đôi tượng võ sĩ thứ ba (đặt ở sân đền), đôi tượng quan văn (đặt trong toà sinh từ).
Đôi tượng võ sĩ thứ nhất: Tạc liền Bệ đá cao 1,78m đầu đội mũ quả găng, mình mặc áo giáp, ngực và vai chạm hổ phù, chân tượng đi hia, tay cầm chùy dựng được theo thân mình. Cổ áo của đôi tượng này có khắc tên là Đinh Văn Do và Nguyễn Đình Toán. Đây là hai tượng bộ tướng giỏi của Lãng Trung Hầu Nguyên Thai người được thờ tại đền. Đinh Văn Do là người Thanh Hoá, xuất thân nông dân vì chống lại triều đình nên bị bắt giam chờ ngày xử tội. Vì có tài bắn cung nên Lãng Trung Hầu xin vua cho theo làm bộ tướng.
Nguyễn Đình Toán người làng Bún, Sơn Tây, nhà nghèo, học giỏi, đỗ tiến sĩ năm 18 tuổi, làm quan đến Thượng thư, phạm tội bị cách chức. Toán cũng được Nguyễn Thai xin vua tha tội và thu phục làm bộ hạ.

Đôi tựơng võ sĩ thứ ba: Đây là đôi tượng võ quan, cao 1,73m, râu dài, nét mặt nghiêm, đầu dội mũ tế nhưng không có cánh chuồn, mình mặc áo bào trơn, tay phải cầm kiếm dựng ngược theo thân mình, tay trái giơ lên, bàn tay xoè thẳng đặt ngang ngực.
Đôi tượng quan văn: Cùng cao 0,65m, đặt đối diện nhau ở hè sinh từ ngay cửa ra vào. Hai tượng này tạc giống nhau. Đó là 2 người đang ngồi xếp bằng tròn, mình mặc áo thụng, đầu đội mũ quan văn, hai tay dể lên đùi, tay phải cầm bút, tay trái cầm quyển sách, ngón tay thon nhỏ, nét mặt thanh tú dáng thư sinh.

Các tượng người nói trên cùng với tượng động vật (chó ngồi canh cửa, voi chầu, ngựa chầu.. đã chứng tỏ khả năng giải phẫu tạo hình của các nghệ nhân dân gian thực sự đã đạt đến trình độ cao để có được những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc bằng chất liệu đá thật tuyệt vời.

Điêu khắc đồ thờ tự hình khối
Đó là các án thờ, sập thờ, mâm bồng, ngai thờ, bàn đá... đều được làm từ đá nguyên khối, tạo thành những sản phẩm có thể khối lớn, tỷ lệ cân đối, chính xác trình độ tạo hình tinh xảo và khoa học.

Bia đá
Hiện nay đền Phú Đa còn lưu giữ được 10/18 tấn bia đá vốn có. Tất cả 10 bia đá tập trung ở toà Tiền đường, gồm 2 loại kích cỡ: loại cao 2,40m, một loại cao 2m và cùng có chiều rộng l,17m. Các bia chỉ khắc chữ một mặt, mặt còn lại gắn vào tường. Phía trên mỗi tấm bia đều có những thanh đá rộng bản chườm ra ngoài tạo thành mái che kiểu “ô văng”. Diềm bia chạm hình hoa thị nội tiếp trong hình bát giác liên tục. Phía trên ô khắc tên bia có trang trí hình rồng cách điệu. Dưới cùng thay cho đế bia là đố ngang chạm các đề tài: chim phượng, long mã, xen lẫn là hình sóng nước nổi cao cuồn cuộn.

Cây hương đá và bia đá ở các đình chùa đền miếu làm từ thời Lê và thời Nguyễn.
Bia đá: Đa số các đình chùa đền miếu ngày trớc đều có bia đá. Hiện nay chỉ còn lác đác một số. Bia cũng có nhiều loại với kích thước to nhỏ khác nhau. Có chùa khắc hai ba bia. Thông thường bia đặt trên lưng rùa đá hoặc bệ đá và có hình dạng chung chia làm hai phần: trám bia và thân bia. Trán bia ở phần trên có hình bán nguyệt, thường chạm các hình rồng, mây, hoa lá và tên bia. Phần còn lại là thân bia hình chữ nhật hay vuông. Diềm cung quanh thường trang trí hoa văn lá, cánh sen hoặc khắc vạch chữ triện... Cũng có bia để trơn. Phần mặt bia thường khắc chữ ghi tên những người cung tiến hoặc có công trong việc xây dựng hay trùng tu sửa chữa kiến trúc đó.
Hiện nay, chùa Tùng Vân ở Thổ Tang (Vĩnh Tường) là còn lưu giữ được nhiều bia đá nhất. Tất cả có 14 bia đá các loại, trong đó bia cổ nhất còn lại được làm từ thời Chính Hoà, vua Lê Hy Tông (ở ngôi từ 1676 - 1705).

Cây hương đá: Thường đặc trước cửa chùa. Cây hương đá là một cột đá hình trụ vuông, cao khoảng l,40m đến l,60m. Trên ngọn được chạm liền một bát hương to hơn cột nên trông dáng rất đẹp. Xung quanh bốn mặt của cột thường khắc tên những người cung tiến vào chùa. ở Vĩnh Phúc còn một số cây hương đá cổ. Chùa Hoa Dương - xã Tuân Chính (Vĩnh Tường) có cây hương đá làm năm Chính Hoà thứ 1 (1680), chùa Tùng Vân - xã Thổ Tang (Vĩnh Tường) có cây hương đá làm năm Chính Hoà thứ 7 (1686), chùa Kính Phúc Hương Canh (Bình Xuyên) có cây hương đá làm năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (l707), chùa Phong Doanh xã Bình Dương (Vĩnh Tường) có cây hương đá làm năm Vĩnh Thịnh thứ tư (1708), chùa Linh Sơn - xã Quất Lưu (Bình Xuyên có cây hương đá làm năm Vĩnh Thịnh thứ sáu (1710), chùa Càn Long - xã Đồng ích (Lập Thạch có cây hương đá làm năm Cảnh Thịnh thứ hai 1794….

Thành công của các nghệ sĩ dân gian trong chạm đá là đã biết căn cứ vào chất liệu và màu sắc của đá mà tận dụng chúng trong tạo hình và trong trang trí nội thất. Những khối hình chắc khoẻ, những mảnh mầu xanh xẫm đã tạo cho kiến trúc một không khí uy nghiêm, sâu lắng, thu hút được sự ngưỡng mộ của con người, Mặt khác, với kỹ thuật tinh vi điêu luyện, các nghệ sĩ dân gian đã khắc hoạ các hình hoa, lá, chim, thú... Khiến cho các di vật đã trở thành tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Đá, nhưng không thô thiển, nặng nề mà vẫn mềm mại, uyển chuyển. Với những đề tài phản ánh các nét sinh hoạt trong cuộc sống, những trang trí trên đá đã làm cho không khí trong kiến trúc vừa giữ được vẻ trang nghiêm, vừa không lạnh lùng. Nhà cửa của thần linh mà vẫn ấm áp hơi thở của cuộc sống con người.

Điêu khắc gỗ
Điêu khắc gỗ có nhiều loại hình như tượng tròn, khắc chìm, phù điêu chạm nổi, đục thủng chạm bong... Các bức chạm gỗ cổ dân gian có giá trị thường được tập trung ở các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, nhiều nhất là trong các ngôi đình. ở chùa thì nổi bật là nghệ thuật tạc tượng và một cửa võng hoặc các toà Cửu Long. Có nhiều pho tượng rất đẹp như Tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay ở chùa Cói (Hợp Thịnh, Tam Dương), hiện viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đang lưu giữ. Pho tượng này rất sinh động, có thể xếp ngang với pho tượng Phật nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh).

Do chất liệu không bền, lại bị nhiều yếu tố huỷ hoại, nên các tác phẩm điêu khắc gỗ cổ dân gian ở Vĩnh Phúc còn lại rất ít. Sau đây xin giới thiệu một số tác phẩm đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất.

Chạm gỗ ở đình Thổ Tang (Vĩnh Tường)
Đình Thổ Tang là ngôi đình có dáng dấp cổ nhất trong các ngôi đình hiện còn ở Vĩnh Phúc (được xây dựng vào thế kỷ XVII) và cũng là ngôi đình mang tính chất dân gian đậm đà nhất trong chạm trổ trên gỗ.

+ Bức chạm Ngày hội xuống đồng: Chạm trên một kẻ nghé ở hè đình cạnh cửa ra vào gian giữa, dài 1,35m, rộng 0,70m. Bức chạm có 25 người đều được chạm bong, miêu tả ngày hội xuống đồng. Nổi bật là người đang cày ở tư thế cầm cày chăm chú điều khiển con trâu để đường cày được thẳng, đạt tiêu chuẩn ngày hội . Xung quanh có những người cầm cuốc, cầm đàn, thổi tù và, vác bó mía. Phía trên có người đội mũ cánh chuồn đang ngồi, một tay cầm quạt một tay bưng bát rượu, cạnh có người chắp tay đứng hầu. Lại có người cưỡi ngựa đi xem hội. Nhìn bức chạm ta có thể thấy lễ hội xuống đồng của nông thôn thời Lê tưng bừng, náo nhiệt lắm.

+ Bức trạm Bắn hổ: Bức này ở trong Đại đình, gian cạnh bên phải dài 0,80m, rộng 0,60m. Chạm một người đi săn và một con hổ đứng trên một vách đá cheo leo. Người là một lực sĩ, tay cầm súng kíp ghì trước ngực, chân trái hơi khuỵu, chân phải duỗi thẳng, nép mình vào vách đá, mắt dõi theo súng chĩa về phía hổ. Con hổ đang ở tư thế bị động, thân co rúm một chân trước giơ lên bơi bơi trong không gian, một chân sau đưa lên gãi tai, vẻ lúng túng.

+ Bức chạm Đá cầu: Bức này ở ngách cột cái gian cạnh, hình vuông mỗi chiều dài 0,40m, tả cảnh chơi đá cầu. Đó là hai người đầu đội mũ quả lựu, áo thắt đai, cổ và ngực chạm hoa rất đẹp, mỗi người giơ một tay gác chéo lên nhau, một chân nâng lên vuông góc ở tư thế đá cầu, quả cầu tròn nằm ở lòng bàn chân. Khoảng cách giữa hai người có một con nghé nhô ra trông rất ngộ.

+ Bức chạm Cảnh sinh hoạt: Bức này dài 1,40m, rộng 0,50m ở bên trái của võng gần hậu cung, miêu tả chuyên đề về những cảnh gia đình. ở trung tâm bức chạm là một đôi trai gái đang tình tự: người con gái quàng tay qua cổ anh con trai, anh con trai đặt một tay lên ngực người con gái hai người đang ở độ tuổi trẻ, cơ bắp mập mạp tròn trĩnh, nét mặt hồn nhiên thơ mộng. Bốn góc chạm tả các cảnh “Gia đình hạnh phúc”: chồng đang học, nằm sấp, một tay cầm thẻ bài, một tay cầm bút, bên cạnh là vợ đang bế con; “vợ chồng lười” chồng nằm nghiêng, chân co, chân duỗi, vợ ngồi cạnh đang xoa bóp đùi cho chồng, hai người cùng cười; “gia đình lục đục”: Người chồng nét mặt giận giữ vẻ vũ phu, một tay chống vào mạng sườn, một tay cầm cây gậy, trước mặt là một người đàn bà khoanh tay trước ngực, nét mặt buồn, dưới chân có một đứa trẻ; “Đánh ghen”: một người đàn ông đang bá vai một người đàn bà một người đàn bà khác xăm xăm bước tới, đấm vào gáy người đàn bà mà người đàn ông bá vai.

Ngoài các bức chạm gỗ trên, đình Thổ Tang còn có nhiều bức chạm gỗ giá trị khác như: bức chạm ở cửa võng, hai bộ cửu long tranh chân, Bát tiên quá hải, gánh đồ, uống rợu, đầm sen, chim, cá, cua, rùa, voi, ngựa, hươu nai... (Tổng cộng 21 bức) đều là cảnh vật trong thiên nhiên gắn bó với cuộc sống con người.

Chạm gỗ ở cụm đình Hương Canh (Bình Xuyên)
Đình Hương Canh
Loại trạm khắc trang trí không có người bao gồm các bức “Y môn cửa võng”, bức “Ván nong”, bức “Cồn nách”, bức chạm trên cồn hình tam giác”...
Các bức chạm khắc trang trí có người lại càng sinh động, phong phú. Toàn đình có 19 bức chạm lớn nhỏ ghép thành 6 mảng lớn ở trong đình. Đây là hình ảnh thu nhỏ của ngày hội làng, phản ánh được phần nào sinh hoạt của nhân dân ta thời Lê Trung Hưng.

Bức chạm trên cửa võng: Đây là bức chạm lớn nhất trong đình, dài 5m, rộng 0,80m .Toàn bộ đều chạm lộng những hình gai dứa tua tủa, những nét mác cong đều vun vút từng đợt như những làn sóng, ở giữa có một đầu kìm to trông rất oai nghiêm. Nhưng một điều lý thú là trên bức chạm ấy có 8 người, 2 sư tử, 6 rồng trơn, 1 thạch thùng leo. Với bấy nhiêu người và vật, người nghệ sĩ dân gian đã khắc hoạ nên một cuộc vui chơi giải trí rất nhộn nhịp. Trông bức chạm như xem một gánh xiếc đang biểu diễn mà người xem phải nín thở với tiết mục “thổi xì đồng”: hai lực sĩ đóng khố, mình trần, đầu chít khăn vuông, một người đang biểu diễn. Chàng lực sĩ ấy môi kề vào ống xì đồng như đang lay hơi phồng má rồi thổi mạnh làm bay đi một viên đạn nặn bằng tro than hài cốt của một người nào đó, để phía bên kia một con rồng không vây đang ngẩng đầu lên há mồm đỡ lấy. Còn lực sĩ thứ hai thì chân xoạc ra, tay cầm ngang ống xì đồng, hình như anh đang khởi động để chuẩn bị làm những động tác nghệ thuật hơn, tài tử hơn chăng. Một tiết mục hay nữa ở đây là cảnh “người cưỡi rồng”: người ấy mặc áo cánh nâu, đội khăn nâu, ngồi trên mình rồng, hai tay dang thẳng. Rồng ở thế bay vun vút uốn lượn ngoằn nghèo, nhưng người vẫn không rơi, nét mặt bình thản.

Thật là táo bạo ! Ngay giữa cung đình mà người nghệ sĩ dám cưỡi lên mình rồng để bước đầu gián tiếp phủ định vai trò của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến thối nát mà không hề sợ “phạm thượng”. Giá trị tư tưởng của bức chạm này chính là ở chỗ đó.
Ngoài ra trong đình còn có các bức chạm “Đi săn”, “Đấu võ”, “Đấu vật”, “Bơi chải”, “Tiên cưỡi rồng”, “Bầu rượu túi thơ”… chạm các cảnh thiên nhiên, các hình kìm, nghé, rồng, phượng.

Nhìn chung, về nội đung chạm trổ ở đình Hương Canh là miêu tả ngày hội làng, một hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống của nhân dân ta thời xưa, thông qua đây có ẩn ý chống phong kiến và mê tín dị đoan. Đặc biệt nghệ thuật điêu khắc gỗ thật là tuyệt tác. Các hình người và vật trong các bức chạm rất sống động, nghe như có tiếng hò reo dậy đất, tiếng trống vật rộn ràng, tiếng tù và bơi chải inh ỏi của ngày hội làng. Đó là thành công của các nghệ nhân cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII.

Đình Ngọc Canh
Điêu khắc gỗ ở đình Ngọc Canh và đình Hương Canh có những nét giống nhau về kiến trúc và phong cách trạm trổ, nhưng khác nhau về nội dung và nghệ thuật miêu tả. Chạm trổ ở đình Hương Canh đẹp trong không khí nhộn nhịp vui tươi thì chạm trổ ở đình Ngọc Canh đẹp trong không khí trầm lắng suy tư, liên tưởng trước cuộc sống thực tế của nhân dân ta thế kỷ XVIII. Với bố cục chặt chẽ hài hoà, đường nét phóng khoáng, chú ý khắc họa từng chi tiết từng tình cảm, từng nét mặt, làm rõ cá tính từng nhân vật trong bức chạm để rồi tạo nên một tác phẩm hoàn hảo, có nội dung tư tưởng sâu sắc thể hiện sát đề tài đinh trước.
Đây là bức chạm tiêu biểu nhất, đặc sắc nhất.

Bức chạm Dựng cột buồm, chạm trên một đầu cột con ở gian cạnh, miêu tả cảnh đóng thuyền buồm của một hiệp thợ. Trên một chiếc thuyền vừa làm xong, mũi thuyền là hình đầu rồng nằm ngửa cong lên, giữa thuyền là một cột buồm đang dựng, hai bên có bốn cây chống, có sáu người. Đằng lái có một người nằm nghiêng, chân vát chéo lên nhau, một tay chống thái dương, nét mặt bình thản. Có lẽ đây là ông thợ cả đang nằm nghỉ vì những công việc chính là cả chiếc thuyền đã làm xong, chỉ còn lại một việc đơn giản là lắp ráp chiếc cột buồm, nên ông được quyền nằm nghỉ sau thời gian mệt nhọc. Đằng mũi, có một người đang đứng, một tay để ngang bụng, một tay giơ lên, mắt nhìn lên cột buồm. Hình như đây là ông thợ kỹ thuật hay thợ phó đang chỉ đạo việc dựng cột buồm. Còn lại bốn người thì hai người đang trèo lên ngọn cột buồm, dáng người khoẻ khoắn lẳn chắc, môi bặm lại đang dùng tay để lắp các mộng và các chi tiết của cột buồm. Dưới gốc cột buồm, trên sàn thuyền có hai thanh niên, một trai một gái đang ôm giữ cột buồm, chắc để cho cột buồm thêm vững, đảm bảo an toàn cho hai người đang trèo trên ngọn cột. Một chi tiết rất hóm hỉnh là: đang phải ôm giữ cột buồm như thế, anh con trai vẫn cứ lấy chân gác lên dùi cô gái, và cô con gái đang lấy tay du cái chân của anh chàng ấy ra. Với hình ảnh ấy, các nghệ sĩ dân gian muốn nói lên tính hồn nhiêu yêu đời trong lao động sản xuất của nhân dân lao động. Bức chạm này được chạm thủng, cả 6 người đều được chạm đẹp, khoẻ mạnh, tươi vui.

Cùng với bức “dựng cột buồm” còn có các bức “Uống rượu” “đánh cờ”, “Đến hát nhà quan”, “Đường Tăng đi lấy kinh”… và các bức chạm khắc trang trí như bức cồn chạm “Tứ linh” bức “Mẫu Long huấn tử hành vân”… đã tạo nên vẻ đẹp nổi tiếng trong làng điêu khắc. 

Đình Tiên Canh (Tiên Hường)
Điêu khắc gỗ ở đình Tiên Canh ít miêu tả cảnh sinh hoạt cửa con người. Trong đình hiện nay chỉ có 3 bức chạm có hình người (Luyện voi, Bơi chải và Người múa), còn lại là chạm các cảnh thiên nhiên và vật thờ, đặc biệt là hình rồng rất phổ biến. Rồng ở nhiều tư thế khác nhau: rồng hút nước, rồng cuốn cột, cá hoá rồng... Tiêu biểu nhất là bức chạm trổ ở cửa võng.

Chạm trổ ở cửa võng: Đình Tiên Canh có án gian rất độc đáo. Nếu ở các đình khác, án gian chỉ có một lần cửa, thì ở đình Tiên Canh, án gian có 2 lần cửa trong và ngoài, mỗi lần có 3 ô cửa, trang trí toàn hình rồng, chạm trổ rất công phu. Hai cạnh của các ô cửa ngoài được trang trí bằng bẩy lớp hình cá hoá rồng, mỗi con l,50m dài suốt theo chiều cao của cửa, đầu cá ở dưới đang cong lên để nhìn toàn bộ phần thân đã hoá rồng, trông rất hay. Còn 3 ô cửa trong thì được trang trí đến tám tầng, mỗi tầng là một con rồng hoàn chỉnh ở phía dưới nhưng ngẩng lên, mồm há, mắt bôi đen trắng. Hai cột ở ô cửa giữa chạm một đôi rồng to đang cuốn chặt vào cột. Trong toàn bộ sáu ô cửa võng ở đây là hơn một trăm con rồng nằm cùng một tư thế song song với nhau, với cả rừng vây mác trông rất uy nghi. Bên ngoài, ở hai bên ô cửa giữa, chạm tượng bẹt hình hai con lân đang chầu, lưng cõng chữ thọ. Bên trên cửa võng là bức ván gió chắn, nối lên tận trần, trang trí các hình rồng chầu mặt trời, phượng càm chữ thọ và bốn chữ “Thánh cung vạn tuế”. Rồi các băng hoa văn hình hoa chanh, hoa thị, dấu cộng được chạm trổ và trang trí ở cửa võng và án gian đình Tiên Canh là những kiệt tác độc đáo về điêu khắc gỗ thế kỷ XVIII.

Cũng có người nói hình rồng ở đình Tiên Canh biểu hiện sự độc đoán chuyên chế của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII. Nhưng lại có người nói hình “Cá hoá rồng” có nhiều ở đình Tiên Canh là phản ánh tình hình thi cử, ước mơ đỗ trạng của nho sinh thời ấy.
Cụm đình Hương Canh thực sự là niềm tự hào về tài năng, trí tuệ không những của địa phương Hương Canh mà của cả nhân dân Vĩnh Phúc:
Bộ cửa võng đình làng Tây Hạ (Lập Thạch)
Đình làng Tây Hạ hiện chưa có bằng chứng chuẩn mực để xác định thời điểm đầu tiên làm đình. Chỉ có 3 niên đại được ghi lại ở thượng lương là các năm 1754 (triều Lê), 1860 (Tự Đức 13, triều Nguyễn) 1868 (Tự Đức 21, Triều Nguyễn) đều là các năm trùng tu đại đình và làm mới nhà Hậu Cung. Dấu tích còn lại ở lần trùng tu năm 1754 là chiếc thượng lương toà đại đình và bộ cửa võng trước Thượng điện.
Tổng chiều dài của bộ cửa võng là 3,30m, cao 0,85m cộng với các mảng trang trí chạm lộng và trang trí ghép thêm vào thành tổng chiều cao là l,50m. Bộ cửa võng có 3 ô, chiều dài không đều nhau: ô bên trái l,08m, ô bên phải l,01m, ô giữa l,l0m. Chủ đề thể hiện là Rồng và Tiên. Có 2 lớp chạm bong, (chạm nổi) 10 vị Tiên trong lớp chạm hình 22 con rồng uốn khúc ghép với 3 lớp hình gai dứa xen kẽ, đều sắp xếp theo hình nổi chữ V phát triển vào phía trong.

 Ô cột trụ biên bên phải gồm một nửa hình chữ V, cao 0,70m với các lớp gai dứa tạo thành cánh, dài khoảng 0,45m. Nửa trụ góc là hình một con rồng, uốn vòng quanh trục tâm theo chiều thẳng đứng. Con rồng có đầu rất to. dáng chắc khoẻ, miệng há rộng, ngậm hạt ngọc - Râu bờm sờm, tóc dựng đứng. Đứng trên vai rồng là một “Tiên ông” đội khăn đầu rìu, vai vác búa dáng dấp như người tiều phu, có chiều cao tới 0,28m. ở lớp thứ hai, các hình hoạ bài trí ngược lại: “Tiên nữ”’ đứng đội đầu rồng, cũng vẫn tư thế rồng cuốn quanh một trục tròn thẳng đứng. Vị Tiên nữ có mặt to, dáng hình mập khoẻ. áo tứ thân, thắt lưng hoa lý, hai tay đặt trước bụng. Lớp thứ 3 và thứ 4 vẫn có hình rồng uốn khúc nhưng không có người.

Cột trụ giữa bên phải và bên trái có bố cục như nhau. Đó là một bối thể hoàn chỉnh, có trục hình rồng ở giữa và phát triển 3 lớp trục hình rồng sang hai bên gồm 7 hình trụ rồng xếp lớp với 3 tầng hình gai dứa theo hình chữ V trực diện. Cưỡi lên đầu rồng là một Tiên nữ, hai tay chắp lại trước hộ tâm, dáng như đang cầu khấn trời đất. Phát triển sang hai bên là hai hình Tiên nữ mặc áo dài, buộc giải ngang lưng, cổ đeo vòng. Tiên nữ bên phải hai tay chụm vào nhau như đang tụng niệm; Tiên nữ bên trái dáng cầm mái chèo thuyền, tôn nghiêm thành kính. Hai Tiên nữ này đều đứng đội đầu rồng. Các hình rồng ở đây mồm đều mím chặt, cằm rồng tựa đặt vào đầu các vị tiên, rất hiền lành tin cậy.

Ô cột trụ biên bên trái: Cũng là hình nửa chữ V, bài trí gần như bên phải. Chỉ khác là Tiên nữ mặc áo dài, hai tay cắp trước bụng một vật đựng (như cái giá nan) trong có hình cặp bánh chưng vuông. Đỉnh trên của cột trụ hình rồng có hình một Tiên ông như trụ biên bên phải.Bộ cửa võng đình Tây Hạ trước hết là một biểu tượn Rồng - Tiên. Đó là hai thể Nước (Rồng) và Núi (Tiên) để kết hợp thành một chỉnh thể cộng đồng người Việt cổ: 50 con theo cha xuống biển, 50 con theo mẹ lên núi. Nói một cách khác, điêu khắc gỗ ở bộ cửa võng có hàm ý giải thích về nòi giống Việt Nam là con Rồng cháu Tiên.

Hai bức phù điêu ở chùa Tây Thiên
Đó là hai bức y môn bằng gỗ chạm nổi cảnh “Nhạc công - thiên thần”. Đây là hai bức phù điêu cổ có kích thước lớn và nội dung độc đáo trong sưu tập điêu khắc gỗ cổ dân gian ở Vĩnh Phúc. Hai bức y môn này có kích thước bằng nhau, được làm bằng nhiều mảnh ván nhỏ ghép lại thành hình chữ U để ngược, chắn ở điện thờ. Mỗi bức rộng 2,5 mét vuông (m2) trên chạm nổi 11 người đang cử nhạc và múa hát trong mây. Những hình người này đều là nữ, đầu đội mũ miện, khuôn mặt đẹp, anh tú, mình mặc áo thụng, cổ và ngực có trang trí những dải lụa toả ra. Họ được chia và bố trí đều trên ba phần của y môn. Phần trên, ở giữa cửa y môn có 3 người ngồi xếp bằng tròn theo hàng ngang; còn tám người được chia đều sang hai bên, mỗi bên bốn người, bố trí dọc theo chiều đứng của cửa; người dưới cùng đang ngồi hai tay dang ra với những hoa dây rậm rạp; người thứ hai bên trên đang thổi sáo; người thứ ba thì một tay cầm quạt, một tay xoè ra ở tư thế đang múa hát; còn người trên cùng đang đánh đàn nguyệt.

Phủ kín toàn bộ hai y môn này là các hình mây cụm, hoa lá dầy đặc, điểm trong đó có các hình phượng đang bay và rùa với hoa sen, kỹ thuật chạm nổi ở y môn này rất tinh tế. Những thiếu nữ xinh đẹp, những con vật ngộ nghĩnh, tự nhiên như đang chuyển động bồng bềnh trong biển mây và rừng hoa lá của chốn thiên đường. Bức phù điêu phản ánh những ước vọng, cầu mong về một cuộc sống thanh bình, đầy đủ của nhân dân ta. Đây là một di sản điêu khắc gỗ độc đáo còn lại ở Vĩnh Phúc, hiếm thấy ở các đền chùa khác.

Tượng gỗ
Tượng gỗ dân gian cũng thuộc bộ môn điêu khắc gỗ, nhưng tách riêng ra một mục, vì loại tượng gỗ này chủ yếu chỉ có trong các ngôi chùa làng và được sắp đặt theo một trình tự giống nhau.
Các chùa tiêu biểu còn lại hiện nay như chùa Tùng Vân (Thổ Tang Vĩnh Tường), chùa Kính Phúc (Hương Canh, Bình Xuyên), chùa Thượng Trưng (Vĩnh Tường)... đều có tới hai, ba chục pho tượng gỗ. Thông thường ở chùa, tượng được bày chủ yếu ở ba toà là Tiền đường - Thiên hương và Thượng điện. Ba toà này làm liền nhau thành hình chữ công, nền làm theo từng cấp cao dần về phía Thượng điện, nên tượng đặt ở chùa cũng thành từng lớp cao dần nhu thế. Tượng có thể chia làm hai loại là tượng Phật và tượng Thần. Hệ thống tượng Phật có rất nhiều pho như Kim Cương, Thích Ca, Quan âm, Tam Thế, A Di Đà, Tuyết Sơn v.v... Tượng thần thì có loại tượng thiên thần như Ngọc Hoàng, Thổ địa... có loại tượng nhân thần như Hai Bà Trưng, âu Cơ... Những người được coi là linh thiêng cũng có tượng ở chùa như Thị Kính, Thị Mầu... Tượng Phật và tượng Thần không mấy khi tách riêng mà thường được bày xen lẫn nhau theo một thể thức nhất định. Thông thường trong một chùa, các pho tượng được bố trí tuần tự như sau: Qua Tam quan đến toà Tiền đường, ở đây bắt đầu bày tượng thường có các pho: “Tượng Kim Cương”, còn gọi là tượng Hộ Pháp. Tượng ngồi trên bệ hoặc trên lưng kỳ lân, mình mặc áo võ tướng một tay cầm vũ khí hoặc một cái vòng, một tay để lên đùi hay nắm tóc con lân ghì xuống, vẻ vững chắc, dáng tượng khoẻ, rắn rỏi, tỏ ý kiên quyết bảo vệ phật pháp. Tượng Kim Cương thường có 2 pho, một pho “Khuyến thiện”, một pho “Trừng ác”, dân gian hay gọi ngắn gọn là “ông thiện”, “ông ác” Hai pho này thường có kích cỡ lớn, đầu gần như chạm mái chùa, đứng hai bên tả hữu, tạo vẻ uy nghiêm. Vì kích cỡ đồ sộ như vậy, không có cây gỗ nào có thể tạc vừa, nên các nghệ nhân dân gian thường đắp bằng đất luyện giấy bản, dùng sơn son phủ ra ngoài. Đề tài của hai pho tượng này gắn với cuộc sống thực ngoài đời: Khuyến thiện - Trừng ác - Đó chính là lý tưởng thẩm mỹ để đạt tới Chân - Thiện - Mỹ.

- Tiếp theo có tượng đức ông và thánh Tăng, rồi các cảnh địa ngục của Diêm Vương. Hết toà Tiền đường thì đến toà Thiên hương, trong bày các pho tượng sau:
Tượng Cửu Long: Còn gọi là Thích Ca sơ sinh vì tượng này miêu tả cảnh Thích Ca ra đời. Tượng là một đứa trẻ mặc quần ngắn đang đứng, hai ngón tay trái trỏ lên trời, hai ngón tay phải trỏ xuống đất, ý muốn diễn tả câu nói của Thích Ca: “Thiên Thượng địa hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới đất, chỉ có một mình ta là đáng được tôn thờ hơn cả). Vòng qua đầu tượng là hình chín con rồng quấn vào nhau đang phun nước cho Phật tắm. Có chùa bày pho tượng này ở giữa toà Thiên hương.

Tượng Ngọc Hoàng: Tượng này ngồi, đầu đội mũ bình thiên, râu đen, mình mặc áo thụng. Hai bên có hai pho Nam Tào, Bắc Đẩu đang ngồi bấm đốt ngón tay.
Tượng Tuyết Sơn: Là tượng một ông già ở núi Tuyết, khổ hạnh, người gầy guộc, hầu như chỉ là bộ xương đang ngồi thiền định tu hành để mong đắc đạo.

Tượng Quan âm: Nhân dân hay gọi là tượng Phật Bà. Tượng ngồi theo kiểu “Kiết Già” trên toà sen. Tượng tạc đẹp, mặt trái xoan, đầu nở hơn mặt, vẻ thông minh, đội mũ xung quanh có trang trí các hình hoa rất đẹp. Tượng có sống mũi thẳng, mắt nhìn xuống như soi dọi vào cuộc đời, vào tâm trạng của chúng sinh, miệng hơi mím như đang chuẩn bị một nụ cười độ lượng, đồng cảm. Tượng mặc áo có nhiều nếp, tà áo như đang bay. Đôi bệ tượng là đầu một con quỉ Long Vương, mặt có chiều ngang dài hơn chiều dọc, vẻ phì nộn, đầu và hai tay đều đỡ lấy toà sen. Hai bên tượng Quan âm có hai pho tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ.

Toà Thượng điện bên trên Thiên Hương, trong bầy bộ Tam Thế.
Bộ tương Tam Thế. Gồm ba pho. Ba tượng này đều ngồi “Kiết Già” trên toà sen, tóc xoắn tít nên dân gian hay gọi là bụt ốc. Mình mặc áo cà sa, cổ đeo dây anh lạc. Pho ở giữa là tượng A Di Đà, hai pho hai bên là Quan thế âm Bồ tát và Đại thế chi Bồ tát. Ba pho này tạc đẹp, nét mặt hiền dịu song tinh anh, thể hiện một trí tuệ cao siêu, giỏi giang để bảo vệ và cai quản chúng sinh ở cõi Nát Bàn.
Ngoài bộ tượng Tam Thế, toà thượng điện ở một số chùa còn bầy tượng thần như tượng Hai Bà Trưng, tượng Thị Kính, Thị Mầu, tượng Tổ nghề v.v...

Ở một số đền cũng có bày tượng gỗ, nhưng không được đầy đủ và qui củ như chùa. Tượng ấy chủ yếu là các vị thần được thờ tại đền.
Nhìn chung tượng gỗ ở các chùa là một nghệ thuật tạo hình được kết hợp nhuần nhuyễn khái quát và cụ thể, giữa nghệ thuật cách điệu và đặc tả, khiến cho các pho tượng có một phong cách chung - Phong cách Phật giáo. Tất cả các tượng Phật đều được tạc đẹp hơn người thực, đó là lý tưởng thẩm mỹ của người xưa. Đẹp hơn nhưng không xa lạ, không khác biệt với người đời. Đồng thời từng pho được đặc tả một cách chi tiết làm sao cho tính cách, sự tích của từng nhân vật được hiện lên rõ nét làm cho nhân dân rất dễ nhận ra. Nhưng đặc điểm ấy khiến cho quang cảnh trong chùa đẹp, lộng lẫy mà ấm áp chứ không lạnh lùng xa lạ. Cõi Phật mà rất đời, chúng sinh dễ gần gũi. Đó là những thành công nổi bật của các nghệ sĩ dân gian tạc tượng cho các chùa chiền thuở trước.

Vẽ hình và trang trí
Khi trình bày về kiến trúc và điêu khắc dân gian, chúng tôi đã đề cập tới một phần giá trị của nghệ thuật hội hoạ, vẽ hình và trang trí của cha ông ta từ thời dựng nước. Đó là một nghệ thuật vẽ hình trang trí mang đậm bản sắc dân tộc và rất độc đáo.
Đến thời phong kiến tự chủ, sau hàng nghìn năm bị kìm hãm bởi chính sách đồng hoá, áp bức bóc lột hà khắc của phong kiến phương Bắc, dân tộc được giải phóng, bản sắc đó lại có dịp được tiếp nối và phát triển.

Những trang trí, chạm khắc trên trống đồng sang giai đoạn này vẫn giữ bố cục đường tròn và những hoa văn hình học của thời kỳ văn hoá Đông Sơn. Nhưng đã có thêm các hoa văn lá đề, hoa chanh, trám lồng, hình lục lăng, hoa dây cuốn nổi, cúc dây. ở những trống đồng đúc muộn (thời Nguyễn) thì những hoa văn trang trí chuyển hẳn sang hình rồng phượng.
ở thời Lý - Trần, hội hoạ và trang trí thường được gắn với những công trình kiến trúc chùa tháp. Từ một viên gạch xây tháp (tháp Bình Sơn) đến viên gạch làm giếng đều có nét trang trí hoa văn quen thuộc như lá đề, sóng nước, hoa chanh, rồng, phượng...

Tranh vẽ cổ chỉ còn rải rác ở một số nơi: trang trí trên trần và tranh mực màu vẽ phong cảnh ở đình Ngọc Canh, tranh thờ ở một số chùa, đền miếu. Rõ ràng, bên cạnh việc phục vụ tín ngưỡng, ông cha ta xưa đã đưa hội hoạ và trang trí vào cuộc sống. Nhưng do điều kiện khí hậu ẩm thấp, bão gió và chiến tranh liên miên, những công trình bằng gạch đá còn bị tiêu huỷ thì những bức tranh bằng sơn, bằng màu, vẽ trên gỗ, trên tường làm sao còn giữ được nguyên vẹn.

Cho đến nay ở Vĩnh Phúc chưa tìm thấy một làng tranh truyền thống (như dạng làng tranh Đông Hồ, Bắc Ninh). Làng Phương Viên - xã Thổ Tang (Vĩnh Tường) có thể coi là một làng tranh, nhưng chủ yếu là tranh thờ gắn liền với nghề vàng mã. Theo gia phả thì tổ tiên từ Bắc Ninh đến lập nghiệp. Tuy chưa có một làng tranh truyền thống, nhưng các loại tranh thờ như là “Bà chúa Thượng ngàn”, “Bát quái”, “Ngũ Hổ”, “Thần mưa”, “Quan thế âm bồ tát”… vẫn còn rải rác ở một số đền thờ hoặc trong gia đình đồng bào dân tộc ít người.
Chúng tôi xin giới thiệu kỹ một số bức tranh thờ trong số hơn 20 bức tranh thờ của dòng họ Lâm, dân tộc Cao Lan ở xã Quang Yên - huyện Lập Thạch.

Bức tranh Thánh Sư: Có ghi chữ “Thánh sư” bằng chữ Hán, được bố cục 2 tầng, tầng trên là hình vị “Sư tổ” ngồi nghiêm trang, ở tư thế ngồi giảng bài, tay cầm bút lông, phía trước mặt là quyển sách, có 4 môn đệ hầu cận. Tầng dưới là vị thần dạy, có lẽ ở trình độ thấp hơn. Người Cao Lan quan niệm mọi công việc ở trên đời đều phải có thầy dạy mới làm nên. Do vậy, tất cả những người có chút học vị (biết chữ, biết cúng) đều phải lập bàn thờ Thánh Sư. Với người thầy dạy mình thì phải sống tết, chết giỗ.

Bộ tranh Công Pháp: Có 4 bức miêu tả các vị quan thần trông coi về pháp luật, được bố cục cân đối 4-5 tầng. Các bức tranh được ghi là Thượng công pháp, Trung công pháp, Hạ công pháp và tầng địa ngục (nhà giam, hình phạt). Bức tranh Thượng công pháp bố cục 4 tầng: Tầng trên là ông Bao Công râu tóc trắng, bộ mặt đen, đôi mắt mở to, nghiêm nghị. Tầng thứ hai là vị quan toà trực tiếp xử án, mắt trắng, râu đen ngồi ở tư thế Chánh án, tay cầm lệnh bài phía trước có hình đầu rồng thể hiện uy lực. Tầng thứ ba hình vị quan toà là phụ nữ, có vẻ mặt đôn hậu, giơ hai tay trước mặt phân trần điều phải trái. Phía trước là 6 vị quan thư kí lục sự, hình đầu hổ lại để lệch sang một bên. Tầng dưới cùng thể hiện ngục tù, có ba đồ tể thân người đầu ngựa đầu hổ đang hành hình tội phạm.

Bức tranh Thần Bưu Tá: Người đưa thư (gọi là Màng công sào). Tranh được bố cục theo hình chữ chi đường từ dưới đất lên thiên đàng. Các Thần Bưu Tá cưỡi ngựa, cưỡi Rồng, cưỡi hổ, cưỡi Phượng hoàng tiếp nhau đưa tờ tấu sớ lên Ngọc Hoàng, Thượng đế những điều người dưới trần gian cần tấu trình. Mọi cuộc cúng lễ đều phải có mục cúng thờ Thần đưa thư, tấu sớ lên trời mời thỉnh thần linh về phù hộ.
Hai bức tranh về Thần Nông và Địa Niệm: Tranh được bố cục hai tầng thể hiện rất sinh động về cuộc sống lao động trồng trọt, chăn nuôi. Bức Thần Nông, ông thần nông có thân hình khoẻ mạnh, đóng khố, tay phải cầm “mặt nhật” giơ lên, tay trái trái cầm “mặt nguyệt” phía trước bụng ý nói đây là thần điều hành thời gian đêm ngày. Phía dưới là hình hai người (một nam, một nữ) chọc lỗ, tra hạt lúa trên đồi và mấy người đang cày bừa, cấy lúa, bức tranh Địa Niệm thể hiện vị “thần đất đai, ngồi ở tư thế nghiêm nghị hai tay đưa ra vẻ như đang giảng giải cho dân chúng phải quí trọng đất đai. Tầng dưới có một đàn gia súc...

Bức tranh Dẫn Lộ Hương (gọi là “Dăm dình lù) còn gọi là tranh “âm dương lộ” nghĩa là đường âm dương tiễn đưa người chết trở về cõi trời, Phật. Đây là bức tranh đặc biệt, dài gần 4 mét (có bức dài hơn) được vẽ trên vải tấm. Bức tranh này chỉ sử dụng khi người chết là thầy cúng, còn người thường chỉ dùng tấm vải trắng được đặt ở đầu quan tài dẫn lên mái nhà, chỗ đó có một tàu lá cọ hoặc viên ngói dỡ đi để hở lên trời, ý chỉ đường đi của linh hồn người chết trở về trời. Bức tranh vẽ nhiều tầng nấc từ thấp lên cao, tầng trên cùng có chữ Thiên gia (nhà trời). Những đường nét hoa văn hình vân mây uốn lượn uyển chuyển, biểu tượng con đường lên thiên đàng phải qua nhiều cửa ải, nhiều trạm, tầng nấc có qui định độ dừng của từng thứ bậc, trình độ. Người nào sống ở trên đời này tốt, trình độ học vấn cao (ví dụ thầy cúng) thì linh hồn được đi theo con đường này lên đến tầng thứ 9 Thiên gia (nhà trời), còn người thường chỉ được đi đến lưng chừng đường đi.

Ngoài ra còn hàng chục bức tranh thờ các thánh thần khác như: tranh thờ Gia tiên, tranh thờ Phật Bà Quan âm, tranh thờ Thần Núi, Thần Sông, Thần Thiên Lôi, Thần văn nghệ ca hát.... tất cả các bức tranh đều mang yếu tố tâm linh giáo huấn, răn dạy người đời phải học hành, phụng sự tổ tiên, tôn trọng đất đai, sống có luật pháp, có trên có dưới, vươn tới cái thiện, cái đẹp, cái cao cả, cái ác bị trừng trị.
Đây là bộ tranh cổ nhất mà người Cao Lan ở Vĩnh Phúc còn giữ được, có niên hiệu cách đây hơn 100 năm, ứng với khoảng thời gian họ phải bỏ quê hương Trung Quốc đi tìm đất sống ở Việt Nam và định cư ở Vĩnh Phúc (*).

(*) Tư liệu của nhà thơ Lâm Quí, người dân tộc Cao Lan quê xã Quang Yên, Lập Thạch
Đồng bào các dân tộc Dao, Sán Dìu đang cư trú ở Vĩnh Phúc cũng có một số tranh tương tự như vậy.
Ngoài tranh thờ, đồng bào các dân tộc Mường, Dao, Cao Lan, Sán Dìu còn có một nền văn hoá riêng thể hiện qua cách ăn mặc và trang trí quần áo.
Đồng bào Mường có cùng một nguồn gốc với người Việt nhưng người Mường ít bị lai tạp nên bảo lưu được khá nhiều đặc trưng văn hoá xa xưa. Ví dụ những đường chỉ thêu hoa trên cạp váy (cạp rang) của người Mường hiện nay chính là những hoa văn đã được khắc trên các trống đồng.

Đồng bào Dao có khả năng trang trí đẹp đẽ vui mắt, được thể hiện qua trang phục phụ nữ với màu sắc rực rỡ hài hoà. Nhiều nhà nghiên cứu coi mỗi phụ nữ người Dao là một nghệ sĩ dân gian thêu thùa giỏi. Phụ nữ Dao đều phải tự may thêu lấy quần áo của mình. Hình ảnh màu sắc của núi rừng xanh thẳm, của hoa chuối đỏ tươi, rồi chim muông hoa lá và cả thú dữ.... đều được thu nhỏ vào trang trí trên khăn, trên áo, trên túi đựng đồ. Ngoài cảnh vật thiên nhiên, người Dao còn thêu bùa trừ tà. ở một góc khăn trùm đầu phụ nữ thường được thêu một con chó (vật tổ của người Dao). Ngoài ra còn có hình chữ “Vạn” được thêu vào đuôi thắt lưng tượng trưng cho uy linh của Phật, có khả năng trừ được các hung thần. Đến chiếc xà cạp quấn chân cũng được trang trí và thêu hình con ngựa, thể hiện sự mong ước luôn được rắn rỏi khoẻ mạnh như chân ngựa để trèo đèo lội suối đỡ nhọc nhằn.

Đồng bào Cao Lan và Sán Dìu cũng có bản sắc riêng của mình, thể hiện trong các hoạ tiết trang trí trên quần áo, khăn, gối của phụ nữ. Nhất là các cô gái Sán Dìu với bộ quần áo chàm màu xanh lam đặc trưng của núi rừng, lại thích trang điểm thêm những chiếc thắt lưng màu xanh mạ non, màu hoa hiên hoặc màu hồng sặc sỡ óng ánh ở ngực, ở cổ tay là những vòng bạc, những dây xà tích và vuốt hổ bịt bạc buông dài thắt lưng, hai bắp chân là đôi xà cạp trắng.

Như trên đã nói, trên vùng đất Vĩnh Phúc, ông cha ta đã tạo được cho mình một nền văn hoá bản địa mà đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn. Nền văn hoá ấy bao gồm nhiều mặt của đời sống xã hội, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Trong văn hoá tinh thần thì “Mỹ thuật dân gian” đã để lại cho hôm nay những minh chứng giá trị và xác thực nhất.


Các tin đã đưa:
Tháp Bình Sơn
Tây Thiên Đền Hai Bà Trưng
Tìm hiểu văn hoá
Tin tức - sự kiên
Doanh nghiệp
Công nghiệp Doanh nghiệp trẻ
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Trang thông tin điện tử Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Cơ quan chủ quản: Sở văn hóa,Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Địa chỉ: Số 2 đường Hai Bà Trưng - phường Đống Đa - TP Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
ĐT:0211.3862.505 * Fax:0211.3847.773 * Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn * Tổng biên tập: Trần Văn Quang
Giấy phép số: 13/GP-TTĐT ngày: 31/01/2013 của Cục Quản lý Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử