www.vhttdlvinhphuc.vn

 
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch *Số 2 đường Hai Bà Trưng *phường Đống Đa *TP Vĩnh Yên *tỉnh Vĩnh Phúc  *ĐT:0211.3862.505 *Fax: 3847.773 *Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn
 
Giới thiệu
Văn bản - Thủ tục HC
Vùng đất - Con người
Du lich
Thể thao
Văn hóa, Thể thao cơ sở
Tạp chí VH Vĩnh Phúc
Ý kiến đóng góp
Sách hay Vĩnh Phúc
Tam Đảo - Di sản văn hoá và tiềm năng du lịch
Danh mục tin
Tìm kiếm
 

Liên kết Website
Đối tác
Công ty cổ phần Mạng Trực Tuyến META Công ty TNHH Mặt Trời Vàng
Số người truy cập
Bạn là người thứ: 530752
Đang truy cập: 1
Lễ hội dân gian (25/04/2008 14:21)

LỄ HỘI DÂN GIAN

Những thiết chế nghi lễ Tổng quan về lễ

Lễ - định nghĩa về lễ

Lễ trong phạm trù Triết học
Lúc đầu “Lễ” chỉ là cách thức cúng tế, về sau được dùng rộng ra để chỉ những quy tắc được tập thể thừa nhận trong đời sống cộng đồng: cưới xin, tang chế, giao tiếp… Lễ có giá trị đặc biệt với đạo Nho, vì được coi như bắt nguồn từ trật tự của trời đất, từ “thiên lí” tức lẽ trời gồm những quy tắc thiết yếu như “tam cương” (quân - sư - phụ), “ngũ thường” (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) mà con người phải tuân theo. Đạo Nho quan niệm “Trời cao đất thấp, muôn vật khác nhau, nhân đó phải đặt ra lễ để chế định hành động con người” (Sách “Lễ kí”).

Lễ tức là một trật tự xã hội, kỷ cương cuộc sống. Khổng Tử, người đầu tiên sáng lập ra đạo Nho ở thời Xuân Thu (551-479 TCN) nói: Lễ nhằm sửa cho đúng theo đạo trung (Sách “Lễ kí”). Đạo trung là đạo sống đúng mức về mọi mặt, không thái quá, không bất cập và cũng là đạo sống trung thực đối với mình, đối với người.
Lễ chế (phép tắc về việc lễ) gắn liền với nghi lễ (nghi thức về việc lễ), hợp với điều nghĩa để hòa nhập với xung quanh. Lễ cũng gắn liền với Nhạc.

Trong xã hội, Lễ phân biệt trên dưới, ngăn cản những gì quá đáng, thiên về lí trí, nên cần có Nhạc kèm theo để điều hòa tình cảm tạo nên sự hòa nhập tương thân. Đối với cả Lễ và Nhạc điều cơ bản là phải xuất phát từ đức nhân bên trong. Khổng Tử thường nói: “Người mà không có nhân thì dùng Lễ thế nào được” (Sách “Luận ngữ”).

Lễ trong phạm trù Tôn giáo
Là các hoạt động chủ chốt trong đời sống tín ngưỡng của người có đạo, gắn liền với Phật, với Chúa, với các tín đồ như Tăng Ni với Phật Tử, giáo sỹ với giáo dân.
Lễ trong tôn giáo được coi là thiêng liêng nên được coi là Phật lễ, Thánh lễ.

Lễ trong lễ hội dân gian các làng xã (nhất làng - nhất xã: làng là một xã).
Là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Như vậy, lễ trong lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng chung cộng đồng.
Do nhận thức hạn chế, người xưa rất tin vào đất, sông núi, vì thế các làng thường có miếu thờ thiên thần (thần nhà trời), thổ thần (thần đất), thuỷ thần (thần dưới nước), sơn thần (thần núi), gọi chung là thần thiên nhiên (nhiên thần). Lễ hội cổ truyền đã phản ánh hiện tượng đó.

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, công cuộc dựng nước và giữ nước đã sản sinh nhiều bậc vĩ nhân. Sau khi các vị qua đời, nhân dân tôn vinh là bậc thần, bậc thánh theo nghĩa “Tử giả vi thần” (chết đi là thần). Phần linh khí con người, yếu tố vô hình còn lại không biến đi nên lập đền miếu thờ cúng. Lễ hội là để tôn vinh và tái hiện lịch sử của các sự tích một thời đã qua ấy.

Như vậy, cũng như lịch sử hình thành các lễ hội của cộng đồng làng xã người Việt, lễ hội dân gian các làng Vĩnh Phúc đã hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, đều là những lễ hội tiêu biểu ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, cái nôi của dân tộc Việt, với các giá trị tâm linh cố kết cộng đồng, biểu tượng đời sống xã hội và văn hóa.
Lễ, do vậy trở nên hình thái văn hóa ứng xử giữa người (cộng đồng) với các thần linh mà cộng đồng làng tôn thờ, ấn định trong các nghi thức thờ cúng.


Điểm thờ tự nơi thực hành các nghi lễ

Là các loại hình điện thờ thần, gọi chung là thần điện. Tỉnh Vĩnh Phúc có các loại thần điện như sau:

Thần điện nguyên thuỷ phi kiến trúc
Như cây đa, hòn đá. Đó là các điểm thực hành nghi lễ sơ khai của người Việt cổ nói chung và người Vĩnh Phúc nói riêng. Loại thần điện này có ở khắp nơi trong các làng xã Vĩnh Phúc, từ đầu làng, xóm ngõ tới ngã ba đường làng.
Trên các tuyến đường liên xã, liên huyện, liên tỉnh và đường quốc lộ 2A đoạn chạy qua địa bàn Vĩnh Phúc, ngày nay vẫn tồn tại loại thần điện này. ở thân cây, dân chúng tự đặt một bát hương nơi điểm phân cành nhỏ nhất hoặc ở gốc cây to cũng có một bát hương, thế là đã có một điện thờ thần. Người ta thường đến lễ bái, cúng cấp ở đó. Những nơi này không có dấu hiệu gì của kiến trúc, nên gọi chung là thần điện phi kiến trúc.

Thôn Thọ Linh, xã Hợp Lý, huyện Lập Thạch có một đền thờ lộ thiên, gồm các tảng đá xếp chồng lên nhau, dân gian quen gọi là lăng, thờ một vị là “Đức Thánh bà”.
Trên núi Đanh (Đinh Sơn) thuộc xã Kim Long, huyện Tam Dương cũng có một thần điện lộ thiên, thờ 7 anh em họ Lỗ đời Trần, có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1258 gọi là “Thất vị Lỗ Đinh Sơn”, dân gian vùng này quen gọi là “Cái lăng hóa”, chỉ nơi “hóa thần” của các vị.

Bà Lăng Thị Tiêu huyền thoại ghi nhận là chính phi của vua Hùng Chiêu Vương đời thứ VII, là biểu tượng của thần thiên nhiên “thần núi - thần rừng”, sắc phong là “Tam Đảo Sơn Trụ Thái phu nhân chi thần”, ban đầu chỉ là mô đá xếp ở núi Thạch Bàn, trước năm 1937 chỉ là một ban trái trong chùa Tây Thiên.

Các thần điện có kiến trúc ở Vĩnh Phúc
Nghè

Là loại hình điện thờ thần có mái che sớm hơn cả, thuật ngữ Việt cổ gọi là “Nghè”. Đó là dạng sớm của miếu thờ thần - nghĩa là thần điện có kiến trúc sơ khai. Tổng số hiện nay ở Vĩnh Phúc còn 10 ngôi nghè.

Am
Trong tín ngưỡng tôn giáo là nơi thờ Phật, phạm vi nhỏ hơn chùa. Miếu thờ thần linh bản thổ ở các làng, hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là “Am”.
Ngày nay ở xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường có ngôi chùa mang tự danh “Đa Am tự” có thể hiểu theo nguyên nghĩa là am chùa của thôn Đa (Đa - Bố - Đình là 3 thôn của xã Yên Lập). Từ “Am” phát triển lên thành chùa.
Am và chùa là điểm thực hiện lễ giáo đạo Phật. Về sau thường dùng từ “am” để chỉ định là nơi yên tĩnh, tu tâm đọc sách của văn nhân các đời. Các nhà sư cũng thường tu tâm, đọc kinh Phật ở các am chùa.

Quán
Là nơi thờ thánh thần tương tự như đền miếu trong tín ngưỡng dân gian. Từ khi Đạo giáo xuất hiện ở Vĩnh Phúc với hai nhân vật huyền thoại là Thổ Lệnh và Thạch Khanh ở thời Vĩnh Huy nhà Đường (650-655), và sau đó là sự ra đời của quán Thông Thánh ở vùng Bạch Hạc - Việt Trì, thì trong dân gian có một loại hình thờ tự nữa. Đó là các đạo quán ông Tiên. Hiện nay trên địa bàn trong tỉnh còn 4 ngôi đạo quán. Điển hình như đạo quán ở xã Bình Dương huyện Vĩnh Tường, quán ông Tiên ở xã Bình Định, huyện Yên Lạc.

Miếu
Miếu là công trình kiến trúc nhỏ với quy mô rất đa dạng. Thường có 3 gian chạy dọc vừa có nội điện vừa có nhà tiền tế. Không có tả hữu gian, sân nhỏ và không có tam quan. Tuy nhiên cũng có những ngôi miếu đồ sộ như tòa nhà lớn, nhiều gian và nhiều lớp cấu trúc, như miếu thôn Quan tử xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch thờ nhà giáo Đỗ Khắc Chung đời Trần. Có lẽ khi mới lập từ năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) nhà Lê, gọi là miếu - đến đời Bảo Đại năm Kỷ Mão (1939) tôn tạo lại có quy mô như một ngôi đền, song vẫn gọi là miếu.
Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu - tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng. Ví dụ: miếu Cô, miếu Cậu trên đường lên Quốc Mẫu Tây Thiên núi Thạch Bàn dãy Tam Đảo không rõ lai lịch. Miếu thờ thần núi hoặc thần hổ gọi chung là miếu Sơn thần. Miếu thờ thần nước (thần sông) gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu thuỷ thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu Thổ thần hoặc thần Hậu thổ.

Miếu còn là nơi thờ cúng các bậc trung liệt có công với nước, với dân như Miếu Bì La xã Đồng ích thờ Triệu Việt Vương Quang Phục và hai bộ tướng là Trương Hống - Trương Hát (di tích xếp hạng cấp tỉnh năm 1991), miếu Hùng Vương xã Đình Chu (di tích xếp hạng quốc gia năm 1996), miếu Ngòi làng Lũng Ngoại xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường (di tích xếp hạng cấp quốc gia trong cụm di tích đình miếu năm 1994), miếu Quan Tử (di tích xếp hạng quốc gia năm 1993)…
Tỉnh Vĩnh Phúc còn có Văn Miếu thờ Khổng Tử và các vị tiên nho, tiên hiền, như Văn Miếu tỉnh Vĩnh Yên trên núi Yên Lập (nay thuộc phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên) lập năm 1927. Huyện Vĩnh Tường cũng có Văn Miếu thờ Khổng Tử. Mới tìm lại được quả chuông có ghi: Vĩnh Tường Văn Miếu chung, tức chuông Văn Miếu phủ Vĩnh Tường, tạo năm Thiệu Trị thứ 1 (1841) địa điểm tại làng Huy Ngạc, nay thuộc thị trấn Vĩnh Tường.

Miếu thường được toạ lạc ở nơi xa làng, yên tĩnh, thiêng liêng và chỉ là nơi yên nghỉ của các vị thánh thần. Trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thầnvề miếu yên vị.

Đền
Đền là nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Tình Vĩnh Phúc có các ngôi đền lớn được ghi vào từ điển thờ cúng của các triều đại phong kiến như đền Tây Thiên, đền Bắc Cung (đền Thính), đền Hai Bà Trưng làng Hạ Lôi, đền Trần Nguyên Hãn xã Sơn Đông, đền Đuông xã Bồ Sao…
Về kiến trúc, một ngôi đền thường chia làm hai phần. Phần nội điện (hay còn gọi là hậu cung) và nhà đại bái. Kết cấu này thường được bố cục theo lối chữ “Đinh” dân gian gọi là kiểu chuôi vồ.
Nhà đại bái lại chia làm 3 khoảng (3 gian hoặc 3 gian 2 dĩ) là trung đền, tả gian và hữu gian. Trung đền còn gọi là tiền tế, nơi có chiếu nghinh thần trong các cuộc tế.

Trước đền có sân, cùng với trung đền làm nên một không gian thực hiện tế lễ trong các ngày giỗ thần ngăn cách với bên ngoài, có cổng đền. Cổng có cánh đóng mở để tỏ sự tôn nghiêm.
Thường thì các đền không mở hội dân gian, chữ “hội” ở đền chỉ có ý nghĩa là toàn dân họp lại thực hiện các nghi thức tế lễ, cầu cúng và thực hiện diễn trình tái hiện các sự kiện lịch sử liên quan đến vị thần được thờ.
Các di tích miếu, đền đều là nơi gắn liền với sự tích các vị thần.

Với nhân thần: Đền là nơi sinh thời các vị đã từng đến, từng ở như:
- Miếu Quan Tử là nơi thầy giáo Đỗ Khắc Chung lên mở trường dạy học từ thế kỷ XIII. Thượng cung miếu là nơi thầy ngồi dạy học trò.
- Đền Trần Nguyên Hãn là ngôi nhà từ khi sinh thời, cha ông lên dựng nhà ở, đến Trần Nguyên Hãn khi về hưu lại xây dựng phủ đệ. Khi ông qua đời, nhân dân Sơn Đông mới “nhân cố trạch khởi từ miếu…” (nhân nhà cũ, dựng nên đền miếu).
- Miếu Bì La xã Đồng ích là nơi năm 555 (năm ất Hợi), Triệu Việt Vương, sau trận đánh thành ô Diên, ông rút lên đền Tây Thiên núi Tam Đảo, theo đường sông Đáy, trú lại ở bến Bình La.
- Miếu làng Bến là nơi ông Ngật Tuấn Cao Sơn, con trưởng của vua Hùng Vũ (đời thứ XII) đi đo đất theo con đường thủy sông Đáy, ông cắm thuyền bước lên bờ. Vì vậy ở đây mang địa danh làng Bến: bến nước, bến ở sông để thuyền bè đậu hoặc để tắm giặt lấy nước.
- Miếu trại Nghĩa Ngoại xã Thái Hòa, là nơi đồn trú của ông Lê Tuấn đánh giặc Hán thời Hai Bà Trưng.
- Đền Bà Trưng Trắc ở xã Thái Hòa, là nơi bà Trắc lên hội quân ở mạn sông Đáy năm 40 CN.
- Đền Hai Bà Trưng làng Hạ Lôi, là nơi đặt đô của thời Trưng Nữ Vương.
- Đền Đuông xã Bồ Sao, Vĩnh Tường là nơi ở của gia đình Đông Long Vương… Mỗi di tích thờ cúng đều có một sự tích là thế.
Với thiên thần: Đền là nơi hiển thánh của các vị. Đền thôn Đông Lộ xã Đại Đình huyện Tam Đảo là nơi giáng thế của nữ thần núi Tam Đảo (sau có họ tên là Lăng Thị Tiêu) gặp vua Hùng Chiêu Vương đời thứ VII.

Đình
Đây là công trình kiến trúc công cộng của làng xã nên thường toạ lạc ở giữa làng. Mỗi làng ở Vĩnh Phúc đều có một ngôi đình, gọi chung là đình làng. Ba chức năng chính của đình làng gắn với 3 chức năng sinh hoạt cộng đồng như sau:
- Thượng cung đình hay còn gọi là hậu cung, là nơi thờ cúng các vị thần bảo hộ cho làng, gọi là thành hoàng làng. Các vị thần thường là vô nhân xưng (không rõ họ tên), hoặc các vị nhân thần được phong làm thành hoàng làng. Cũng còn gọi là đình trong, giữ chức năng thờ cúng.
Đại đình hoặc còn gọi là đình ngoài, chia làm 3 phần. Chính giữa là trung đình giữ chức năng cúng tế. Hai bên là tả gian và hữu gian (có thể gồm một, hai hoặc ba gian kiến trúc).
Trong các ngày cúng lễ, hoặc ngày có việc làng những người có ngôi thứ cao trong làng ngồi ở trung đình, còn những người có ngôi bậc dưới và dân làng (Bạch đinh - giai đinh chân trắng) ngồi ở tả gian và hữu gian nên có thể nói đình ngoài còn giữ chức năng chính trị giải quyết mọi công việc chung của làng xã.

Đình ngoài có sàn gỗ, để trống bốn bề trừ gian giữa nơi cử hành cúng tế (thường là chiếu nghinh thần trong ngày đại tế) thì không làm sàn và không ai được ngồi.
Ngoài nhà đại đình là sân đình nơi thực hiện mở hội làng, thực thi chức năng văn hóa làng xã. Hai bên sân đình là nhà tả mạc và hữu mạc, dùng làm nơi sửa soạn lễ vật cúng thần hoặc làm chỗ ngồi khi làng mở hội.
Ngoài cùng có cổng đình có 4 cột thường gọi là thiên trụ hay tứ trụ. Cổng đình thường được xây một hàng cột trụ gồm 4 chiếc, 2 chiếc bên trong to cao, 2 chiếc bên ngoài nhỏ thấp, tạo thành 3 ô cổng vào. Cổng giữa lớn, cổng hai bên nhỏ hơn. Các cổng đình đều bỏ trống, không có cánh cổng đóng mở.
Như vậy, cả 3 loại hình di tích miếu, đền, đình đều có một chức năng thờ cúng, tức là một không gian thiêng liêng tiến hành nghi lễ tế thần, một hình thái văn hóa phi vật thể.


Bài trí thờ tự, một thiết chế thực hiện nghi lễ

Trong không gian thiêng liêng ở miếu, đền, đình thì vị thế của khu nội điện xếp hàng bậc nhất. Đó là trung tâm của sự thờ cúng, nơi định hình, sản sinh ra nội dung của các giá trị tế lễ và hội hè, tức là các giá trị văn hóa tâm linh của cả cộng đồng.
ở vị thế trang trọng nhất của khu di tích (giá trị văn hóa vật thể) các làng đã tạo ra một sự bài trí theo thiết chế hoặc là sâu thẳm, hoặc là hoành tráng nhằm tôn lên sự uy nghiêm của các cuộc hành lễ.
Sự bài trí như sau

Bài vị: Trên cùng của cung cấm là nơi đặt tượng hoặc bài vị của các vị thần (Mộc bản có dáng người của các vị thần gọi chung là thần vị - nơi ở của thần). Tượng và bài vị đều có dòng ghi duệ hiệu của các thần, gọi là dòng thánh tâm.
Mỗi vị thần là một tượng hoặc một bài vị đặt trong long ngai hoặc trong khám.
Trước nơi an phụng thần vị là bàn thờ, trên đó đặt hòm sắc phong của các triều đại cùng tư liệu ghi lại thần tích các vị thần.
Bộ Tam Sự: Gồm 3 vật dụng:
Bát hương: Hay lư hương tượng trưng cho bầu thái cực. Hương thắp lên là tượng trưng cho các vì tinh tú. Khói hương là vạch nối âm dương.
Hai con hạc đội đèn (hoặc sáp), hoặc hai cây đèn (hoặc sáp) khi thắp lên là “nhập nguyệt quang minh” (mặt trời, mặt trăng đều sáng”.
Cái tam sơn đặt rượu và trầu cau, là biểu thị của “Tam đài”: Thiên - Địa - Nhân.
Bộ Ngũ Sự:
- Bát hương
- Hai cây đèn (hoặc con hạc), hoặc hai cây sáp.
- Lọ lộc bình cắm hoa.
- Mâm bồng đặt ngũ quả.
- Cái kỷ hay còn gọi là cái Tam Sơn. ở giữa nhô cao lên đủ để đặt bộ đài con ba chiếc đựng 3 chén rượu cúng. Hai bên thấp hơn đựng hai đài lớn, một bên đặt đĩa trầu cau, một bên đặt bát nước cúng.
Bát bửu:
Trong bàn thờ nội điện nối với tiền tế còn có một nhang án thứ hai có ở đền và đình làng, hai bên đặt bát bửu (bảo) gồm có 8 thứ quý là:
- Quả bầu eo - Giỏ quả.
- Cái bút - Thanh kiếm.
- Cái quạt hình quả vả - Cái khánh hoặc phất trần.
- ống sáo (tiêu). - Bàn cờ.
Mỗi thứ được tạo thành mảng chạm lộng, đặt trên đầu một cán dài sơn son thếp vàng, cắm vào hai cái giá đặt hai bên trong gian giữa tiền tế. Phía đầu hàng có hai biển “Tĩnh túc” (yên lặng, trang nghiêm” và “Hồi tị” (tránh ra xa), dùng đi đầu trong lễ rước,
Lỗ bộ:

Trước hương án có dàn lỗ bộ, hay còn gọi là “chấp kích” gồm 8 thứ vũ khí thời xưa:
- Long đao - Mác trường
- Chuỳ - Kiếm
- Câu Liên - Đinh ba
- Tay thước - Nắm tay
Tùy theo từng làng mà bộ binh khí này được đúc bằng đồng (miếu Quan Tử), hoặc bằng gỗ (đền Hai Bà Trưng làng Hạ Lôi, đền Đuông, đình làng Bích Đại…).
Ngày nay nhiều ngôi đền, đình mới được tái tạo, hoặc tôn tạo, lỗ bộ thay thế cho vị trí bát bửu và đi trước kiệu thần trong các kỳ lễ rước, cũng có hai chữ “Tĩnh túc” và “Hồi tị”.
Ngoài ra, hai bên gian giữa tiền tế ở đền hoặc trung đình còn có hai dãy hương án khác trên có đặt đồ lễ của dân làng hoặc của khách thập phương mang tới lễ thần.
Hoành phi câu đối:
Trong thần điện, các làng đều có sắm sửa treo lên các bức hoành phi hoặc câu đối, những hoành phi câu đối này đều để nói lên công trạng của các vị thần hoặc nhắc tới lịch sử oai hùng của các vị thần.
Như vậy, sự bài trí ở thần điện theo một phương thức nhất định tuy là các di sản vật thể nhưng đều biểu hiện tâm linh cộng đồng trong văn hóa ứng xử thờ thần, đều cũng thuộc về thể chế của “lễ”, làm vật trung gian trong mối tương thông Thần - Người theo thiết chế chặt chẽ của Nho Giáo.
Liên quan đến thiết chế nghi lễ còn có các vật phẩm dâng lễ (lễ vật), các thiết chế xã hội thực hành nghi lễ, có lễ cúng, lễ tế, lễ tiệc xướng ca, lễ thức nông nghiệp, lễ rước…
Những vấn đề này khi giới thiệu trò diễn hội làng sẽ đề cập tới một sách cụ thể, vì vậy, không mô tả ở đây (*)
(*) Theo tài liệu của ông Lê Kim Thuyên



Những trò diễn hội làng


Trong mỗi nền văn hoá, lễ hội cổ truyền đóng một vai trò hết sức quan trọng không chỉ vì nó không ngừng gìn giữ, tạo ra những tinh thần văn hoá dân gian mà còn làm cho những tinh thần ấy trở nên sống động thấm trực tiếp vào tâm hồn mỗi người dân thông qua việc tham gia lễ hội. Theo tiến sĩ Lê Văn Kỳ (Trưởng phòng nghiên cứu Lễ hội, Viện nghiên cứu dân gian) lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian tổng hợp do nhiều yếu tố cấu thành như nghi lễ, trò chơi, phong tục, tín ngưỡng, văn hoá nghệ thuật, lễ phẩm dâng cúng. Trong đó nghi lễ và trò chơi được xem là hai yếu tố cơ bản hàng đầu để nhận biết lễ hội. Hiện nay lễ hội thường xuất hiện dưới ba dạng: Lễ hội mới, Lễ hội cổ truyền tái diễn, Lễ hội cổ truyền cải biên. Nói một cách tổng quát, Lễ hội là một cuộc vui của đám đông có tổ chức và tuân theo những nghi lễ nhất định. ở đây ta chỉ nói đến nghi lễ và trò chơi (trò diễn) cổ truyền (tái diễn hoặc cải biên). Trong lễ hội truyền thống, tính cách của cư dân được thể hiện khá rõ ràng. Trước hết đó là niềm tự hào của họ trong những ngày làng mình vào đám, như ca dao đã từng nói:

Làng ta mở hội tưng bừng
Chiêng khua trống dóng vang lừng bốn phương

Tại hội làng, dân làng thể hiện lòng thành kính của mình đối với bậc thần thánh, cùng nhau cầu mong thần thánh phù hộ cho bản thân và cả cộng đồng mạnh khoẻ, mùa màng tươi tốt. Họ dâng cúng, tạ ơn Thần Thành Hoàng của làng mình và khấn nguyện Thành Hoàng giúp đỡ họ theo tinh phần khép kín, tự cung tự cấp:

Trống làng nào làng ấy đánh
Thánh làng nào làng ấy thờ

Một số lễ hội có “tục hèm” thì cũng do dân làng thực hiện tục hèm” ấy, chứ rất ít khi cho người ngoài hay biết.
Do lễ hội có chức năng phản ánh, nên thông qua lễ hội của từng làng chúng ta cũng có thể biết thêm tính cách của những người dân đang cư trú trên mảnh đất ấy như thế nào.

Ta đã biết, từ ngàn xưa, người Việt Nam vẫn lấy gia đình làm trọng lấy quây quần đoàn tụ làm hơn. Trong những dịp giải lao, hưởng thụ, người lao động không nghỉ ngơi riêng rẽ. Trong lúc vui chơi, người ta cũng muốn được vui chung cùng bạn hữu, cùng họ hàng thân thuộc, cùng mọi kẻ quen người biết ở làng trên xã dưới. Bởi vậy, nhân dịp Tết với mùa xuân, các thôn làng đều mở hội cùng với những trò diễn trong ngày hội để cho dân chúng trong thôn ngoài xã, rồi hàng tổng, có khi hàng huyện cùng nhau chung vui gặp gỡ.

Đa số các làng mở hội vào mùa Xuân. Có một số làng mở hội vào mùa Thu . Mở hội vào mùa Xuân là để mừng thắng lợi một năm cũ, hồ hởi hào hứng bước vào năm mới với một niềm tin tưởng tốt hơn năm cũ. (Vì thế, vào năm thất bát làng không mở hội). Mở hội vào mùa Thu lại có nguyên do khác: làng quê vừa thắng trận phòng đê giữ đê tháng bảy với con nước mã nguy hiểm hàng năm. Làng vào đám như muốn ăn mừng đã tránh được nạn lụt và để tạ ơn với thần linh đã bảo hộ dân làng mùa tháng mười sẽ bội thu. Đã vất vả suốt từ tháng năm, sau vụ gặt chiêm, nay được dịp cấy mùa đã xong, công việc đồng áng đã vơi (đây là lịch mùa vụ ngày trước), người nông dân nghỉ ngơi mở hội. Ngoài những lễ hội mùa Xuân và mùa Thu, rải rác trong năm còn có một số làng mở hội theo kỵ nhật của vị thần linh được dân làng thờ phụng. Dân mở vào thời gian nào trong năm cũng gồm có 1 trong 3 loại sau:

Lễ hội về lịch sử liên quan tới các nhân vật lịch sử được làng thờ phụng làm thần linh, hoặc liên quan tới một số sự kiện lịch sử (Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà, Lân Hổ, Trần Nguyên Hãn...)
Lễ hội về tôn giáo thường tổ chức ở các đền, chùa (Hội Đền Thính, nơi thờ Đức Thánh Tản Viên).
Lễ hội về phong tục. Thực ra, hai loại lễ hội trên cũng đã có những phong tục, những cổ tục hay được diễn ra. Nhưng đặt riêng ra loại lễ hội phong tục, các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian muốn giới thiệu thêm những phong tục, cổ tục chưa nói kỹ hoặc chưa nói ở Lễ hội lịch sử và lễ hội Tôn giáo, đặc biệt ở đây còn muốn nhấn mạnh những phong tục cổ tục mang đặc tính riêng chỉ có ở những làng xã thờ các yêu thần, tà thần. Đành rằng ở một số làng thờ chính thần cũng có những tục riêng của các làng ấy, nhưng ở các làng thờ tà thần hoặc những vị thần xuất thân hèn mọn (như dâm thần., thần ăn trộm, thần ăn mày, thần hót phân…) thì dân làng thường dấu không cho người ngoài biết tục riêng: sợ bị chê cười (Ví dụ làng Tích Sơn trước thuộc Tam Dương, nay thuộc thị xã Vĩnh Yên thờ vị thần lúc sinh thời là một tên ăn cướp, chết đi gặp giờ linh được dân làng thờ phụng. Dân làng luôn dấu tên họ quê quán, và khi nhắc đến họ chỉ dùng ba tiếng Đức Thượng Đẳng).

Như đã nói ở trên, một lễ hội bao giờ cũng gồm hai yếu tố cơ bản hàng đầu: nghi lễ và trò diễn. Những năm gần đây, do đồng loạt các làng đều mở lại lễ hội truyền thống nên đã có một số ý kiến cảnh báo là lễ hội làng nào cũng như làng nào, giống nhau y đúc từ rước kiệu đến nghi thức khác thậm chí cả những trò diễn cũng giống nhau (như đánh đu, bắt vịt, leo cầu...) Thực tế cũng có như vậy, nhưng không đến mức giống y đúc nhau. Nó có thể giống nhau về cách thức tế lễ, nghi trượng rước xách, các bước tiến hành v.v... Bởi vì “Lễ” trong lễ hội có tính quy phạm rất chặt chẽ. Mà đã là quy phạm thì không được làm sai đi dù là lễ hội nào. Thông thường đối với một lễ hội qui củ thì số thành viên trong ban tế và các bước tế đều tương tự như nhau (chủ tế: bồi tế, xướng Đông, xướng Tây, chấp sự... hoặc dâng hương tiến hoa tiến trà, tiến tửu...) và một số trò chơi phổ biến cũng vậy: ở vùng sông nước thì đua thuyền, ở vùng cao thì ném còn, ở vùng đồng bằng thì vật võ... Cho nên nếu có sự giống nhau trong phần lễ và một số trò diễn giữa các lễ hội thì cũng phải chấp nhận, không có gì đáng băn khoăn lo lắng. Còn nội dung của Lễ hộ thì được diễn theo thần tích, mà thần tích thì được gắn với vị Thành Hoàng của từng làng nên khó có sự trùng lặp.

Có làng rồi mới có Thành Hoàng của làng. Vậy Hội làng hay làng mở hội, cũng như đám làng, tức làng vào đám chắc hẳn phải được ra đời cùng với sự ra đời của những ngôi làng của người Việt cổ. Những ngôi làng ấy là cái nền của quốc gia Văn Lang thời xa xưa.
Thời phong kiến tự chủ, ngôi đình là trung tâm văn hoá và tín ngưỡng của cộng đồng xã hội người Việt, điểm quy tụ của các loại hình văn nghệ dân gian . Những loại hình văn nghệ dân gian ấy được diễn ra cùng với các lễ nghi của đình làng, đó là các hội làng các trò diễn. ở Vĩnh Phúc đã hình thành, tồn tại và còn bảo lưu được những hình thái sinh hoạt văn hoá nghệ thuật của hội làng, từ những hình thái rất cổ tới những dạng thức mới nhất trước Cách mạng tháng 8 - 1945.

Vì rất gắn bó với ngôi đình và với tín ngưỡng nên hội làng mở ra thường có kỳ, có mùa. Những dịp mở hội làng là những kỳ tế lễ Thành Hoàng, những nhân vật lịch sử được tôn thờ, lễ đón mừng năm mới, lễ cầu mùa, lễ động thổ hoặc mở cửa rừng. Mùa hội làng của người Việt cổ chủ yếu là mùa xuân. Do đó chúng ta được thấy hầu hết các hội làng và các trò diễn dân gian trong hội hè đình đám đều được tổ chức vào mùa xuân. Khi nói đến lễ hội, ta thấy ngay có 2 phần: Lễ và hội. Về nghi lễ đã thống nhất về cách gọi và các bước tiến hành, còn về phần hội có nhiều cách gọi khác nhau: người gọi là “diễn xướng”, người gọi là “trò chơi”. ở đây, chúng tôi dùng khái niệm Trò diễn. Hội làng thay cho các khái niệm trên, vẫn thường dùng bấy lâu nay. Bởi vì khái niệm “trò diễn” mang nội dung rộng hơn. Nó gồm cả những trò có diễn nhưng không có xướng, và cả những trò chơi quen thuộc xưa nay như kéo co, đấu vật

Khái niệm Trò diễn hội làng dùng chung cho tất cả những hình thức sinh hoạt văn hoá của nhân dân tại hội làng mang tính biểu diễn, tính nghệ thuật. “Trò diễn” ở đây bao gồm những hình thức nghệ thuật có tính sân khấu và gồm cả những trò phô diễn tài nghệ, những hình thức đua tài thi khéo, những sinh hoạt hội hè truyền thống.
Với một định nghĩa bao quát về Trò diễn hội làng như trên, chương này chúng tôi không chia lễ hội thành ba loại như có tác giả đã làm (Lễ hội Lịch sử , Lễ hội Tôn giáo, Lễ hội phong tục), mà miêu tả những hình thức sinh hoạt văn hoá trong hội đám của các làng xã ở Vĩnh Phúc với các loại hình như sau:

- Các hình thức vui chơi giải trí
- Các trò diễn vui khoẻ
- Các trò đua tài thi khéo
- Các trò diễn cầu mùa cầu dinh
(có mang tính nghệ thuật sân khấu)
- Sân khấu dân gian: chèo và tuồng

Phân loại như trên sẽ tránh được sự trùng lặp khi giới thiệu trò diễn.
Nhưng chúng ta vẫn cần nhớ rằng “Trò diễn” gắn liền với “Hội làng” không phải trò diễn nào cũng giới thiệu tỷ mỉ về lễ hội ấy, tuy nhiên việc giới thiệu kỹ một số lễ hội chính, vẫn là điều cần làm. Mỗi hội sẽ được trình bày theo thứ tự: Nơi mở hội - Ngày có hội - Thần tích - Tế lễ - Trò diễn trong ngày hội.
Trò diễn được giới thiệu theo thứ tự sau: Tên trò - Thời gian - Địa điểm - Cách chơi - Nội dung - ý nghĩa.


Các hình thức vui chơi giải trí

Chúng tôi xếp vào mục này những hình thức vui chơi chung cho cả cộng đồng, không phân biệt tuổi tác, nam nữ, ai tham gia cũng được, lúc nào vào chơi cũng được, không có giải, hoặc có giải cũng chỉ là tí chút, để lấy may lấy phúc đầu năm. Hội làng được mở ra ngoài yêu cầu tưởng niệm, yêu cầu tín ngưỡng hướng về thắng lợi của sản xuất và nâng cao đời sống, còn có yêu cầu vui chơi giải trí. Người lao động xưa có nhiều hình thức vui chơi và có những hình thức phổ biến, có ở hầu khắp các hội làng đình đám, là trò chơi chung cho mọi người thường được tổ chức ở Vĩnh Phúc là:
- Tung còn - Chọi trâu
- Đánh đu - Và một số trò chơi khác

Tung còn
Có nơi gọi là “Hội còn” hoặc “Hội tung còn”. Tung còn là trò chơi phổ biến trong nhiều làng bản ở các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Mê Linh. Vào ngày hội, người ta chọn một điểm làm bãi còn, ở giữa bãi trồng một cây tre, trên ngọn có buộc một chiếc vòng cũng bằng tre. Có nơi vòng này còn được bịt giấy trắng hoặc giấy màu. Đích thân già làng hoặc già làng chọn một người tiêu biểu tung quả còn đầu tiên, xuyên qua lần giấy đó và bay qua vòng. Hội còn bắt đầu suốt thời gian hội. Các cụ ở xã Quang Yên, Lập Thạch kể rằng ai được ném và ai bắt được quả còn đầu tiên ấy sẽ hưởng phúc và mọi sự may mắn cả năm. Trai gái chia hai bên, tung qủa còn cho nhau qua vòng tre, vừa tung vừa hát đối đáp giao duyên. Có khi trai gái tung còn không có vòng tre, mà ném thẳng cho nhau bắt. Tung còn là hình thức vui chơi ngày xuân của nam nữ thanh niên các dân tộc miền núi. ở Vĩnh Phúc, một số làng thuần Kinh cũng mở hội còn. Có lẽ do sự giao lưu chung trong cộng đồng, hai làng gần nhau, hoặc người nào đó có quan hệ với các làng bản dân tộc mang về làng mình, và được chấp nhận.
Quả còn có hai hình dạng: tròn và vuông. Quả còn hình tròn phổ biến hơn quả còn hình vuông. Quả còn thường nhỏ, cỡ như quả cam, đặt vừa lòng bàn tay. Loại hình tròn còn gọi là cầu, trong một số sách truyện xa gọi văn vẻ là quả tú cầu. Các quả còn đính những tua vải dài gọi là đuôi còn. Cầu vuông có đính vải màu bốn góc. Đuôi còn không chỉ là vật trang trí cho đẹp mắt mà còn để quả còn định hướng, giữ hướng khi bay. Quả còn nào cũng làm bằng vải, nhưng có bọc cát, mạt cưa, cám hay thóc ở trong.
Khi tung còn, thanh niên nam nữ thường hát những câu:

- ước gì anh biến thành vàng
Thành đôi nén bạc cho nàng cầm tay
- Thương thật ấm, thương thật nồng
Thương sao cho chỉ tơ hồng quấn nhau
Xuân này ta gặp nhau đây
Quả còn bay đến bàn tay em rồi
Hát lên lòng dạ bồi hồi
Bạn tình nhớ đợi bên đồi hoa sim

Đánh đu
Trò đánh đu, có nơi gọi là chơi đu. Đánh đu là một hình thức vui chơi dành cho thanh niên nam nữ. Đây là trò vui chơi lành mạnh rất phổ biến trong các ngày Tết đầu năm và cả hội làng vào mùa xuân, không của riêng làng nào.
Ca dao có những câu:

Nhún mình như thể nhún đu
Càng nhún càng dẻo, càng đu càng mềm
- Khen ai khéo dựng đu này
Để cho trai gái chơi ngày chơi đêm

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ đánh đu rất nổi tiếng:

                  Đánh đu
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông
Trai đu gối hạc khom khom cật (1)
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không 2

(Hồ Xuân Hương)
(1) Cật: cái lưng (từ cổ). (2) Trước kia, đánh đu thường tổ chức vào dịp Tết, dịp Hội Xuân. Hết Tết, hết Hội, không ai chơi đu nữa, cọc đu bị nhổ, chỉ còn trơ lại những lỗ cọc.


Đu thường được tổ chức chơi với hai hình thức: Đu bay và Đu cọn (ở các bản làng miền núi còn gọi là Đu xe)
Đu bay là hình thức chơi đu rất phổ biến của người Kinh trên khắp đất nước, còn Đu cọn (hay Đu xe) chỉ phổ biến ở các bản làng dân tộc thiểu số. Theo ông Nguyễn Khắc Xương, vùng người Kinh chỉ thấy chơi Đu cọn ở Hội Đền Hùng và một vài xã phụ cận. Đây có thể là sự giao lưu văn hoá vùng miền, là biểu hiện của tình đoàn kết dân tộc trong Hội Đền Hùng.

Đu bay là đu trồng cột tre, bốn cây đặt bốn góc theo hình vuông, đầu tre chụm vào nhau đóng then ngang, trông như hình gọng vó. Lại có một chốt ngang ở đu xỏ hai cây tre thả dọc xuống, buộc một bàn ngang để đặt chân. Khi đánh đu có thể đu một mình, thường là trai gái đu đôi. Một trai và một gái cùng lên đứng chung một bàn đạp, một chân người này đặt vào giữa hai chân người kia, quay mặt vào nhau, tay cùng vịn vào hai cây tre thả dọc làm thân đu. Người chơi đu dùng sức nhún (dún) cho đu bay bổng lên, đưa trao từ bên nọ sang bên kia như quả lắc đồng hồ. Chơi đu đòi hỏi phải có sức nhún và phải giữ được không chóng mặt, không buồn nôn khi đu bay cao tít mù. Lối chơi này không thích hợp với người già, người đứng tuổi cũng ngại chơi. Đánh đu thường là đánh đôi, một nam, một nữ, nên càng không thích hợp với các chị, các bà đã có con, mà là trò chơi của nam nữ chưa vợ chưa chồng.

Đu cọn (Đu xe) làm như hình cái cọn guồng nước, lại cũng gọi là đu xe, vì nó giống như cái bánh xe. Mỗi cọn có 4 bàn ngồi, người chơi lên ngồi trong bàn, xen kẽ một bàn nam, một bàn nữ. Chơi đu cọn phải có người đẩy cho đu quay vòng.
Như đã nói ở trên, trước đây hầu hết các làng xã đều có trồng cột đu ngày Tết, ngày Hội. Vì thế, ở đây không nêu danh sách các làng xã chơi đu. Chỉ xin giới thiệu Đu Cọn ở Hội Đền Hùng. Hội Đền Hùng là Hội của cả nước, là ngày Giỗ Tổ, ngày Quốc Lễ. Đa số người Việt Nam đều đã từng đi Hội Đền Hùng. Giới thiệu Đu Cọn ở Hội Đền Hùng, cũng là để mỗi người chúng ta cùng nhớ, cùng hướng về cội nguồn.

Trong Hội Đền Hùng, ngoài đu bay còn tổ chức chơi Đu Cọn, gọi là Đu Tiên. Vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, người ta chọn một số cô gái xinh đẹp, được gọi là những “cô tiên”. Những “cô tiên” mặc quần áo xanh đỏ có những tua và dải màu sặc sỡ, ngồi trên Đu Cọn vừa quay vừa hát . Sau tiết mục có tính chất biểu diễn đó là trai gái chơi hội thả sức lên đu. Đu Cọn ở Đền Hùng có 8 bàn, gấp đôi số bàn ở đu các nơi khác.
Tính trữ tình ở Đu bay và Đu Cọn có khác nhau. Chơi Đu Cọn người ngồi lên phải hát mới đúng lệ. Đồng bào dân tộc thiểu số ở các bản làng chơi Đu Cọn có câu hát:

Chơi đu thì phải hò đu
Bao nhiêu trai gái lên đu phải hò
Đu Tiên ở Hội Đền Hùng có câu hát:
Đu Tiên mới dựng năm nay
Cô nào hay hát kỳ này hát lên

Chủ yếu là người trên đu hát với nhau, cũng có khi người trên đu hát với người đi hội, đứng dưới.
Còn Đu bay thì lại khác. Nghệ thuật của đu bay là nhún cho đu tung thật bổng, thật cao chứ không hát đối đáp trên đu. Các cô gái trên đu thường phải chít khan mỏ quạ cho khi du bay khỏi bị sổ tóc. Các cô mặc áo dài tứ thân, yếm điều hay nguyệt bạch, thắt lưng bao màu hoa lý hay hoa đào. Khi nhún đu, tà áo thắt lưng quấn quít với vạt áo the của người con trai cùng nhún một bàn đu, vẽ lên bức tranh trữ tình với những màu sắc dân gian trong tranh làng Hồ (Bắc Ninh), đầy chất thơ và cũng khẳng định rằng giáo lý Khổng Mạnh hàng nghìn năm phong kiến cũng không thể xoá mờ được tình cảm hồn nhiên, tình yêu nồng thắm của người lao động.

Chọi trâu
Thuở xa xưa, hàng năm cứ đến ngày 30 Tết, nông dân ta mở hội rước trâu xuân cho mùa màng tươi tốt. Đi đầu đám rước là những hàng cờ ngũ sắc tung bay trong gió. Tiếp đến một chiếc trống cái hai người khiêng nặng, người đánh trống mỗi lần vụt dùi lại khua lên cho dải lụa đào bay lượn. Mô hình anh chàng “đầu cơ nghiệp” được gắn một đoá hoa đẹp. Một chú bé dắt trâu để tóc trái đào, mặc áo lụa màu lá mạ, tay cầm roi tre. Đám rước cứ đi vài bước, trống cái lại điểm thùng... thùng! Mục đồng theo điểm trống vụt roi lên mông trâu, lập tức đông đảo người đi xem rước đế lớn: “Bờ... rừ... vắt vào!” làm cho hội xuân thêm náo động.

Cùng với tục rước trâu, Tết đến, xuân về, ở nông thôn còn có phong tục đẹp nữa là hội thi trâu. Ngày hội thi trâu là ngày vui xuân nhộn nhịp diễn ra ở khắp miền quê. Những gánh cỏ ngon, rơm phơi gặp nắng được để dành cho trâu dự thi. Con trâu nào cả năm ăn no, cày khoẻ, đứng xếp loại nhất sẽ được thưởng thức mâm đầy cỗ Tết gồm bánh chưng, bánh gai, xôi chè... Sau tiệc no nê, trâu giật giải còn được đi dạo quanh trong làng cho ướm thử vai cày mừng năm mới, để cả năm gắn bó với nghề nông.

Ở làng Hồ (Bắc Ninh) còn lưu lại nhiều bản khắc tranh về trâu. Đặc biệt có bức vẽ chú mục đồng hồn nhiên thổi sáo, chiếc lá sen rợp bóng trên đầu, còn chú trâu nghênh đầu cất bước. Thật là một hình ảnh ngộ nghĩnh, đáng yêu góp phần làm đẹp thêm mùa xuân dân tộc.
Vĩnh Phúc là vùng đất cổ, nơi sinh tụ đầu tiên của dân cư Lạc Việt, sống bằng nghề trồng lúa nước, do đó rất gắn bó với con trâu. Ngoài tục rước trâu, thi trâu như trên, Vĩnh Phúc còn có một số điểm chọi trâu trong ngày vào đám, gọi là Hội chơi trâu. Tiêu biểu là hội chọi trâu ở làng Bạch Lưu Hạ, huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Bạch Lưu, huyện Lập Thạch).
Về hội chọi trâu ở Bạch Lưu, “Đại Nam Nhất thống chí” chép như sau:

“Làng Bạch Lưu Hạ, huyện Lập Thạch hàng năm nuôi 20 con trâu; cứ ngày 18 tháng Giêng hoặc ngày 28 tháng Chạp đặt đàn tế thần ở ngoài nội, cho trâu uống rợu rồi lùa vào trong cái chuồng có tường đắp xung quanh cho trâu chọi nhau. Con nào bị thua thì giết thịt để tế thần.
“Địa chí tỉnh Vĩnh Yên” của Lotezer, xuất bản 1933 (Bản dịch lưu trữ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Vĩnh Phúc) cũng chép về hội chọi trâu Bạch Lưu, nhưng được miêu tả cụ thể hơn và có nhiều chi tiết hơn. Tóm tắt như sau:
Làng Bạch Lưu Hạ, huyện Lập Thạch có hội chọi trâu vào ngày 17 tháng Giêng và 28 tháng Chạp âm lịch. Hội chọi trâu được tổ chức để kỷ niệm Thành Hoàng làng Lã Công Lộ tức Lữ Gia, tể tướng nhà Triệu (Triệu Đà).

Làng có 4 giáp lần lượt nuôi trâu từ đầu năm. Trâu chọi là trâu đen tuyền, béo khoẻ, sừng cân nhau. Trâu được tuyển chọn vẫn có thể đi cày vụ tháng năm. Đến vụ háng mười thì trâu được nghỉ và được chăm sóc hết sức chu đáo. Khi chọi, con nào thua thì loại, thay con khác. Lệ chọi trâu ở đây không có giải. Ngày 28 tháng Chạp có 6 con trâu chọi, ngày 17 tháng Giêng có 4 trâu chọi. Con nào thua thì bị giết làm thịt lễ thần. Sau khi tế, cả làng cùng nhau ăn uống, kể cả các bà các ông, giả làm tiệc khao quân. “Địa chí tỉnh Vĩnh Yên” cũng cho biết đó là ngày hội “cầu Trận” của làng.

Theo các cụ già ở Bạch Lưu kể lại. Trước đây trâu chọi có 8 cặp, chọn trâu cà (trâu đực chưa thiến) ba tuổi. Nuôi trâu chọi phải kén trai tân. Cứ 3 năm có 2 hội chính và 1 hội phụ: 2 hội chính vào tháng Chạp, 1 hội phụ vào tháng Giêng năm thứ hai. Sau dần số trâu chọi giảm đi. Trước kia mỗi hội chính có 8 cặp trâu chọi, nay cả ba hội mới có 8 cặp.
Khi trâu vào chọi người ta đắp bờ đất cắm gióng tre xung quanh rồi thả trâu vào. Trước khi cho trâu chọi, người ta tắm rửa sạch sẽ cho trâu, cho uống nửa lít rượu, ăn cỏ non trộn muối, cháo và chuối thật no. Các con trâu chọi, mỗi con được một người dắt vào. Có hiệu trống nổi, người này tháo dây buộc mũi trâu rồi lui ra.
Đầu năm, khi mua trâu về, phải làm lễ trình thần. Những trai đinh được chọn nuôi trâu chọi phải ăn chay.


Một số trò chơi khác

Trò Leo cầu ùm
Trò này được thấy ở một số hội làng như Bình Dương và Tứ Trưng (Vĩnh Tường), thôn Bảo Đức, xã Đạo Đức (Bình Xuyên), xã Thạc Trục (Lập Thạch). “Cầu ùm” là một cây tre, gốc nó đặt trên bờ ao, chôn cọc giữ cho khỏi lăn, đầu ngọn được đặt lên trên cọc tre ở ngoài ao. Như vậy là cây tre thành một chiếc cầu vuơn trên mặt ao, ở đầu cầu trên ao có cắm một lá cờ nhỏ, người chơi sẽ đi trên cầu tre, ra được tới đầu cầu lấy lá cờ về là được cuộc. Phần nhiều những người chơi thường bị ngã “ùm” xuống ao. Vì thế người ta gọi trò chơi này “leo cầu ùm”..
ở Đạo Đức, đầu cầu phía ao không đặt trên cọc chôn chéo mà lại treo bằng dây thừng. Khi có người lên cầu, cầu đu đưa lủng liểng làm cho cuộc chơi thêm phần khó khăn, nên càng sôi động hào hứng.

Trò bắt vịt trong ao
Ngày xưa các xã có rất nhiều ao (ao gia đình, ao làng), nên ngày Tết, ngày Hội, thường làng nào, xã nào cũng có trò bắt vịt trong ao (là trò vui nhộn, ít tốn kém, luật chơi đơn giản). ở các xã Thượng Trưng, Tam Phúc (Vĩnh Tường) trò bắt vịt trong ao được tổ chức quy củ, có lấy giải. Giải là con vịt bắt được, kèm theo mấy vuông đũi để may áo và một bao chè. Người bắt vịt phải cầm một cái cờ đuôi nheo và giữ sao cho cờ không bị ướt. Con cháu cụ Bùi Tỉnh Hiên (tức cụ Đỗ Quýnh) ở Thượng Trưng nói lại rằng lúc sinh thời cụ kể có năm người tham gia chơi bắt vịt trong ao phải bịt mắt, dùng tai nghe tiếng vịt bơi, vịt kêu mà định hướng bơi đến. Có khi gần vồ được con vịt, người bắt mất hướng, lại bơi chệch, người xem trên bờ reo hò ầm ĩ, vịt sợ bơi tứ tung, càng khó bắt. Có người chơi kinh nghiệm, nghe tiếng chân vịt đạp nước và tiếng vịt kêu vừa định hướng, vừa đoán khoảng cách, lặn sâu xuống, áng chừng đến vị trí con vịt mới nhô lên, tóm ngay được chân vịt. Người đi chơi Tết, người dự hội đứng xem trên bờ càng reo hò mạnh hơn.

Trò đánh đáo đá
Nghe tên trò, tưởng phải xếp vào mục “các trò diễn vui khoẻ” mới đúng. Nhưng thực chất mục đích của trò và cách chơi ít mang tính thể thao, mà lại gây vui. Vì thế vẫn để ở mục vui chơi giải trí. “Trò đánh đáo đá có ở làng Báo Văn, tổng Yên Lạc, huyện Yên Lạc (nay thộc xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc). Trò đánh đáo đá có trong ngày hội mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Tại sân đình làng, người ta đào một cái hào, rồi lý trưởng đem 2 cái cọc đóng xuống hào, đầu cọc cao hơn bờ hào khoảng một gang tay (20cm). Làng chuẩn bị sẵn 12 hòn đá tròn và dẹt như đồng tiền để bên hào.

Hàng năm đều có 6 cụ từ 50 tuổi trở lên, không cứ chức dịch hay bạch đinh, miễn là còn song toàn, đông con cháu và không có tang, được cử ra ném đá để chọn người làm tế trong thời gian làng mở hội. Mỗi lần ném đá là hai người, mỗi người được ném 6 hòn đá vào cái cọc trước mặt. Cụ nào ném đá đúng giữa thân cọc vào dưới tờ giấy hồng điều sẽ được làm chủ tế. Ném hết lượt mà không có cụ nào trúng, thì tiếp tục ném lần hai. Có khi hai cụ cùng ném trúng thì các cụ chia nhau làm chủ tế theo buổi lễ (sáng - chiều - tối), hoặc làng sẽ chọn cụ cao tuổi hơn.
Xét về tế lễ hình thức chọn chủ tế này vừa vui lại vừa dân chủ. Vì nói chung, ở các làng khác, muốn làm chủ tế phải có chân chức sắc và phải khao làng rất tốn kém.

Trò phá giải cây nêu
Trò này có ở nhiều làng, xã Vĩnh Phúc, còn gọi là trò “tán lộc” hay “phát lộc”. “Trò phá giải cây nêu” ở làng Thụ ích, tổng Phương Nha, huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Liên Châu, huyện Yên Lạc), có từ lâu đời. Làng Thụ ích vào ngày hội mồng 3 tháng Giêng âm lịch, người ta trồng ở sân đình một cây tre có buộc ở ngọn một chuỗi tiền trinh, gọi là cây nêu. Tiền này do người làng hoặc khách thập phương vào lễ đình cung tiến. Các cụ từ và Hội đồng bô lão chọn ra một ít tiền lẻ, xâu thành chuỗi, gọi là “lộc thánh”. Ai leo đến ngọn cây nêu, lấy được chuỗi tiền là có lộc quanh năm. Mỗi trai làng đều ngậm một ngụm rượu và tay phất một lá cờ, chạy tới cây nêu, tranh nhau leo lên đoạt lấy chuỗi tiền trên ngọn nêu. Cứ một người trèo lên cây tre lại bị bao nhiêu người túm cẳng lôi xuống. Nhưng rồi cuối cùng cũng có nguời lấy được giải. Người lấy được giải gọi là người phá giải cây nêu. Tiền này thường người ta không tiêu mà mang về nhà đặt lên bàn thờ gia tiên thắp hương, giữ lộc quanh năm.

Các trò diễn vui khoẻ

Đây là trò mang tính Thể thao dân tộc. Chỉ có một số trò là Thể thao đơn thuần còn đa số “các trò diễn vui khoẻ” đều gắn với các chiến tích của các nhân vật lịch sử được dân làng thờ phụng, hoặc gắn với sự kiện lịch sử, những chiến công tiêu biểu của cha ông xưa. Bộ phận trò diễn vui khoẻ này chiếm vị trí quan trọng trong hội làng. Một số nhà nghiên cứu văn hoá dân gian gọi “các trò diễn vui khoẻ” là trò chơi mang tính chiến đấu. Gọi như vậy quả không sai. Dân tộc Việt Nam từ thuở khai sinh lập địa đã sống bên cạnh một nước phong kiến khổng lồ ở phương Bắc, đã luôn phải chiến đấu để tự tôn. Tổ tiên chúng ta phải chiến đấu chống thiên nhiên để biến tạo một phần núi rừng và cánh đồng lầy thành ruộng đất phì nhiêu, nhằm cung ứng hoa màu nuôi sống được cộng đồng. Tổ tiên chúng ta phải chiến đấu để ngăn chặn bước chân Nam tiến của người phương Bắc, buộc họ phải ngừng ở Nam quan. Dân tộc Việt Nam luôn có tinh thần chiến đấu, và tính chiến đấu đã được thể hiện trong rất nhiều cổ tục của cha ông ta. Những cổ tục này mỗi năm với dịp Hội làng được biểu diễn lại như nung nấu ý chí quật cường, như nuôi dưỡng sức đấu tranh bền bỉ của cộng đồng. Những cổ tục đầy tính chiến đấu, và nói theo ngôn ngữ bây giờ, đầy tính thể thao đã luôn luôn duy trì, biểu dương và phát huy cao độ tinh thần thượng võ, ý chí quật cường, bất khuất của người Việt Nam nói chung, của người Vĩnh Phúc nói riêng.
ở phần này, chúng tôi xin giới thiệu một số trò diễn vui khoẻ chủ yếu.

Vật
ở các hội làng trên khắp nước, đâu đâu cũng có đấu vật. Tiếng trống dồn dập cất lên, cờ thần tung bay phấp phới. Các đô vật (hay” hói vật”) mình trần đóng khố phơi những thân hình nở nang cường tráng. Hội vật bao giờ cũng có sức hấp dẫn mạnh mẽ với làng quê.
ở Vĩnh Phúc, những lò vật nổi tiếng có nhiều: Yên Bình, Hoàng Xá, Bàn Giang, Nghĩa Hưng, Văn Trưng... (Vĩnh Tường), Yên Lỗ, Thanh Lãng (Bình Xuyên), Hội Hợp, Đồng Tĩnh (Tam Dương), Bàn Giản, Yên Tĩnh, Tử Du, Triệu Đề (Lập Thạch), Tam Hồng, Dịch Đồng (Yên Lạc), Vị Thanh (Vĩnh Yên). Có hội vật chỉ tổ chức trong phạm vi một làng, vào những năm được mùa, làng mở hội. Có hội vật được tổ chức rộng rãi, dài ngày, thu hút nhiều đô vật nổi tiếng trong vùng.
Vật có “Vật lệ” và “vật giải”. “Vật lệ” là hội vật nhất thiết phải tổ chức theo tục lệ, nếu không tổ chức làng sẽ “động”. Với các làng có vật lệ, dù mưa gió chết cò vẫn phải tổ chức. Trong hội vật lệ thường các đô địa phương đấu với nhau, sau đó sẽ đến cuộc vật giải cho các đô thiên hạ đến trổ tài, thi sức.

“Vật giải” là hình thức đấu vật phổ biến. Đó là hội vật có treo giải thưởng, đón tiếp các đô tứ xứ về dự. Các đô vật lão luyện thường rất thuộc các hội vật có tiếng ở các nơi, kể cả trong huyện, trong tỉnh, hay tỉnh khác. Cứ tới ngày Hội vật các đô lại rủ nhau tới dự. Đô vật nào muốn vào đấu lấy giải sẽ vào đứng trước giải (thường treo bên bàn chủ toạ, cạnh nhang án ở ngay bãi vật) và đưa tay quết ngược giải từ dưới lên ba lần. Làm như thế là ngỏ ý xin vào đấu. Nếu đấu thắng sẽ “đổ giải”, tức được giải. Hai bên bãi, trước nhang án có trải chiếu hoa để các đô ngồi.
Vật có thể được gọi là một môn thể thao, khi chơi phải dùng sức, nhưng cũng phải biết những thế vật gọi là miếng (miếng ngáng, miếng đệm, miếng bốc...). Do đó, vật cũng chính là môn võ nghệ. Tục truyền rằng các ông Nồi, ông Nỏ thời Thục An Dương Vương cũng từng thắng trong Hội vật mà được vời làm tướng. Bà Lê Chân nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng, xưa kia cũng dùng môn vật trong những cuộc thi chọn binh tuyển tướng.

Vật ở các Hội làng xưa kia có nhiều giải phụ và ba giải chính. Những giải phụ gọi là giải hàng. Vật giải hàng, cứ hai đô vật vật nhau, người nào thắng thì được giải (Ngày nay ta gọi là loại trực tiếp). Những giải chính hàng năm đều có người giữ giải. Người giữ giải phải giữ hết thời gian mở hội, nếu không có người thắng mới được lĩnh giải. Thường những giải chính của các hội làng chỉ vật vào những ngày chính hội. Trong ngày chính hội này, nếu có nhiều người phá giải thì người giữ giải sau khi vật thắng được một số đô vật tuỳ theo mỗi giải sẽ được tuyên bố trúng giải. Giữ giải nhất thì phải vật được ít nhất là sáu đô vật khác, giải nhì phải vật được năm và giải ba vật được bốn đô vật khác. Người phá giải, sau khi đã vật thắng người giữ giải, không phải là được giải ngay, mà còn phải vật ngã thêm một số đô vật khác. Phá giải nhất phải thắng thêm bốn người, giải nhì ba người và giải ba hai người.

Ngày xưa, khi còn dùng pháo, đối với ba giải chính, phá xong mỗi giải, hoặc do người giữ giải đã vật đủ số người theo lệ định, hoặc do người phá giải đã toàn thắng, dân làng thường đốt một bánh pháo toàn hồng để mừng người được giải, và cũng để báo cho toàn hội biết giải vật đã kết thúc.

Ở Vĩnh Phúc, giải thưởng các hội vật không lớn, không xa phí, chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, danh dự: vài vuông lụa điều hay lụa bạch, hoặc nhiễu, nái; có nơi giải là ba bao chè, phong thuốc lào. Làng Hoàng Xá (Vĩnh Tường) vào ngày mồng 8 tháng Giêng âm lịch, trai đinh trong làng vật với nhau, người thắng được thưởng 5 hào. Làng Văn Trưng (Vĩnh Tường) giải nhất 3 vuông nhiễu và vài đồng hào. Một số nơi treo giải tiền từ 1 đến 3 đồng. Có nơi treo giải bằng gạo nếp và thịt luộc. Nhiều làng, sau hội vật các đô đến dự đều được mời ăn cỗ hay biếu phần xôi gà. Trước khi vào đấu lấy giải còn có lệ vật khảo, như ngày nay là đấu loại vòng đầu. Trước vật khảo còn có lệ vật vờn, như ngày nay ta nói là đấu biểu diễn, giao hữu, chỉ múa khoe lấy miếng đẹp. Vật vờn còn được gọi là vật trình thánh.

Từng địa phương, Hội vật còn có tục lệ riêng với những hình thức vui chơi hay lễ thức gắn với vật cho thêm vui hoặc thêm long trọng. Xã Thanh Lãng (Bình Xuyên) có lệ: trong lúc các hói vật đua tài, có hai người múa cờ đỏ suốt buổi đấu. Thôn Tĩnh Luyện, xã Đồng Tĩnh (Tam Dương) có lệ trước khi đấu thì tổ chức múa gậy. Làng Bàn Giản (Lập Thạch) thờ một vị tướng nhà Hùng, mở hội vật ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch. ở đây, có một tục lệ riêng: ông chủ tế sau cuộc tế, vẫn mặc quần áo tế, làm những điệu bộ của người đang đấu vật, rồi tới người viết văn tế và người đọc văn tế đấu với nhau. Tiếp đó tới 4 chức dịch có chân trong Ban tổ chức Hội vật ra vật với nhau. Các keo vật này đều được tổ chức trước thượng cung. Đó là vật “trình thánh”. Chỉ sau những cuộc vật nghi lễ hay hèm tục này mới tới cuộc vật giải ở sân đình. Các cụ cho biết, nếu không vật “trình thánh” như thế, năm đó sẽ động, phi mất mùa màng thì dịch bệnh... Hình thức vật trình thánh này cho phép chúng ta nghĩ rằng vị thần được thờ là một đô vật, mà có thể trong quan niệm của nhân dân, đây chính là ông tổ vật của địa phương.

Ở Bình Xuyên có lò vật Yên Lỗ nổi tiếng khắp các vùng Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh... Lò vật Yên Lỗ có đô Nài (còn gọi là Từ Nài), một người đã trở thành huyền thoại. Truyện kể rằng: ở một hội làng Bắc Ninh, các hói vật Kinh Bắc đã hạ được ba người bạn của Từ Nài, còn lại một mình Nài. Thấy Từ Nài có dáng người bé nhỏ nên đô vật Kinh Bắc có ý khinh thường, không thèm đấu. Từ Nài đàng hoàng gõ ba tiếng trống, lấy giải trao cho đàn em, rồi vào đứng giữa xới. Trước hết, Từ Nài múa vờn, gót chân đánh vào mông kêu phành phạch, cúi chào bốn xung quanh, xong vào đấu Từ Nài nắm đầu đối thủ, lắc mạnh rồi lật ngửa người đó ra, nhấc lên ném qua giá giáo (rào vây bãi), làm gẫy tan cả giá. Các đô khác thấy vậy đều kinh hãi xin hàng.

Những năm sau này, lò vật Yên Lỗ còn có đô Tổng (năm 1972, cụ Tổng đã thọ 70 tuổi, vẫn không chịu thua ai) rất nổi tiếng trong làng vật. Có lần, một đồ đệ của đô Tổng bị địch thủ đánh miếng độc, rồi bị xách quăng vào chân người xem để làm nhục. Các đồ đệ liền chạy về báo thầy. Lúc đó đô Tổng còn đang cày ruộng, ông liền bỏ cày lấy khố của học trò đóng vào, rồi ra đình vật với người kia. Trong chớp mắt hạ người kia xong, ông không ở lại nhận giải, về ngay tiếp tục buổi cày. Người ta nói, đô Tổng Yên Lỗ Bình Xuyên đến đám hội vật nào mà đã cởi áo ra là các đô khác phải đến có nhời ngay: “xin ông anh để cho đàn em cái giải này”.

Ở Kẻ Sậu, tức Hoàng Xá Thượng (nay thuộc xã Kim Xá, Vĩnh Tường) cũng có những đô vật tiếng tăm lừng lẫy. Đô Nguyễn Văn Bích ở xóm Chảy, nặng tới 80 kg (năm 1973 cụ 72 tuổi, người khoẻ mạnh hồng bào). Đô Bích nặng cân như vậy nhưng lại rất nhanh nhẹn. Cụ từng vác trên vai một con bò mà nhảy qua hào để về nhà kịp đóng khố đi đấu. Cụ cho biết nếu đánh bò đi đường thẳng thì lâu quá, mà ở bãi vật học trò cụ đang bị dồn vào thế bí. Ngoài đô Bích, ở Hoàng Xá trước đây còn có đô Nguyễn Văn Sen, đô nguyễn Văn Kế đều là những tay vật được anh em trong làng vật kiêng nể.

Như trên đã nói, vật là một môn võ dân tộc rất được nhân dân ta ưa chuộng. Trong thời bình, đây là một môn giải trí và rèn luyện thân thể nhưng trong thời chiến, đây là một môn võ thực dụng để tự bảo vệ mình và để giúp nước. Các đô vật nổi tiếng, có tài nghệ cao như trên, không những là vinh dự của một lò vật, một địa phương mà còn là niềm tự hào của nhân dân Vĩnh Phúc.

Đánh phết - Cướp cầu
Cùng với môn vật, đánh Phết có từ thời Hai Bà Trưng. Khi đánh đuổi quân Tô Định, Hai Bà có những đoàn nữ binh can đảm và anh hùng không kém những đội nam giới. Trong những ngày thao luyện, các đoàn nữ binh có một trò chơi đặc biệt vừa ầm ĩ, vừa phấn chấn tinh thần chiến đấu của mọi người, đó là trò đánh Phết.
Quả Phết bằng gỗ, tròn và to bằng một cái bong bóng trâu thổi phồng và nặng vừa sức chơi. Để đánh phết phải dùng những gốc tre đực đào cả củ, đánh bỏ hết rễ đi. Mỗi gốc tre dài khoảng một thước và củ tre uốn khoăm khoăm.
Người chơi phết phải có sức mang nổi chiếc gậy tre, dùng gậy đó phang vào quả Phết bằng đầu có củ tre. Quả Phết lăn theo sức gậy, và cũng có khi bị củ tre móc kéo đi.

Những người đánh Phết chia làm hai bên, nhiều ít tuỳ theo số người dự cuộc Phết chơi trên một khu đất rộng, gọi là sân Phết, phân làm hai phần, mỗi phần về phía cuối có vẽ vôi một vòng tròn hoặc đào một cái hố có thể lọt quả Phết xuống. Đánh Phết, người bên nọ dồn quả Phết về phía bên kia, bao giờ quả Phết lăn vào cái vòng tròn hoặc cái hố của bên kia là thắng. Trong khi chơi phải lựa tránh những đòn phang rất mạnh của phía bên kia vào quả Phết, lại phải khéo léo đưa họăc kéo quả Phết về phía sân đối phương. Vừa đánh Phết vừa tha hồ hò reo cười nói để cuộc vui càng sôi động. Người ta thường nói “vui ra phết” chính là với ý nghĩa ấy.

Xưa kia, tương truyền rằng mỗi khi nữ binh chơi Phết, Hai Bà thường ngự lãm và thường trao giải cho bên nào thắng. Khi Hai Bà thua trận tự vẫn, các tướng của Hai Bà, nam cũng như nữ đều chết theo để giữ trọn lòng chung. Để ghi nhớ thời kỳ oanh liệt của Hai Bà, những làng có đền thờ các vị tướng thời ấy đều có tục đánh Phết. Về sau nhiều làng không thờ những danh thần danh tướng ấy cũng có trò chơi đánh Phết để tỏ lòng ngưỡng mộ hai vị nữ anh hùng dân tộc.
Thời xưa chơi Phết toàn đàn bà con gái, về sau tại nhiều làng như các làng Bích Đại, Thượng Lạp (Vĩnh Tường). Cựu ấp, Liên Châu (Yên Lạc). Tích Sơn (Vĩnh Yên), Đông Đạo, Vân Hội (Tam Dương), Bàn Giản (Lập Thạch)... Đã cắt cử trai tráng đóng giả nữ binh để chơi Phết trong ngày Hội.
Trong ngày hội ,trò đánh Phết thường được chơi ở trước sân đình, chính giữa sân Phết, có một lỗ, tròn là nơi để quả Phết trước cuộc vui.

Đánh Phết là hình thức đánh cầu bằng gậy, còn cướp cầu là hình thức chơi cầu bàng tay không.
ở Nội Phật trước kia thuộc tổng Hương Canh, sau này thuộc tổng Quất Lưu, và bây giờ thuộc xã Tam Hợp, hàng năm tổ chức hội cướp cầu vào ngày tiệc Tam Nương (ba vị nữ tướng người địa phương đã theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa).

Sách Đại Nam nhất thống chí có miêu tả hình thức chơi cầu ở các hội như sau: đến ngày hội rước bài vị thần hoặc thành hoàng ra khỏi nội cung, đặt trước đàn. Đào ba cái hố ở giữa và hai đầu tả hữu rồi đem quả cầu bằng gỗ sơn bóng thả vào hố giữa. Người già, người trẻ chia nhau đứng hai bên, lúc ấy một người nhiều tuổi nhất đứng trong đàn, hát một câu, lập tức người hai bên chạy đến cái hố ở giữa để tranh nhau quả cầu. Người bên hữu tranh được thì đem quả cầu về bên hữu, người bên tả tranh được thì đem quả cầu về bên tả, gọi là cướp cầu. ở một số nơi gọi cái hố ở giữa là cái “lò doanh”. Bàn thờ thần hoặc Thành Hoàng thường đặt trước lò doanh.
ở Nội Phật, cái hố đặt cầu giữa bãi gọi là “lồ”. Trước đây, làng có bốn giáp chia thành hai phe Đông và Tây. Mỗi giáp cử ra 10 trai tráng, vậy là mỗi phe coSự 20 đối thủ. Các cụ già giải thích, người vào cướp cầu phải là trai đinh khoẻ mạnh được tuyển lựa kỹ. Vì lúc cướp cầu khí thế rất hăng, không khoẻ không chịu được. Có người khư khư ôm trước bụng, các đấu thủ xông vào đấm đánh để giành cầu, còn phe giữ cầu xúm lại bảo vệ cầu đưa về đất phía mình.
Trò cướp cầu có từ xưa, sau này đã chuyển hoá thành trò cướp cờ, với lệ chơi đơn giản hơn, thường được tổ chức trong các trường học.
ở Đông Lai, Bàn Giản (Lập Thạch), lại có trò chơi liên quan đến cả cầu và phết, gọi là trò chơi Đả cầu - cướp phết. Lễ thức “Đả cầu - cướp phết” ở đền Đông Lai được thực hiện như sau: Các trai đinh cởi trần dùng tay không lao vào cướp quả cầu bằng gỗ có đường kính 35 cm, làm bằng gỗ quí, dùng trong nhiều năm. Cùng lúc đó, nhóm trai đinh khác cầm mồng phết bổ, ngoặc giật lấy quả cầu. Vì thế mới gọi là “Đả cầu - cướp phết”.

Trò “Đả cầu - cướp phết” diễn ra chiều ngày 7 tháng Giêng hàng năm. Tục gắn với lễ thức hương ước và cấu trúc theo đơn vị hành chính của làng.
Mục đích của Trò “Đả cầu - cướp phết” là ôn lại việc giữ đất, trấn ải phản ánh sinh hoạt xã hội Hùng Vương thời đó. Qua lễ thức, thấy toàn dân luyện binh đánh giặc giữ nước. Trang Bàn Giản xưa có ba làng nhưng lại có bốn đền thờ Thành Hoàng. Theo ngọc phả của đền, cả bốn vị đều là con Vua Hùng Vương thứ nhất. Mỗi làng thờ riêng một vị, còn vị thứ tư, các làng luân phiên hàng năm thờ.
Sau cuộc tế, đến lễ nghinh vua. Tức là rước tượng Thành Hoàng đặt vào kiệu. Quả cầu cũng được xếp vào kiệu cùng với hai mồng phết cỡ đại. Dứt ba hồi trống chiêng dóng dả, kiệu Vua được dâng cao, cụ mệnh quam (chủ tế) ôm quả cầu đi dưới gầm kiệu, hàng trăm trai đinh cởi trần, đóng khố, đầu chít khăn đỏ người tay không, người cầm mồng phết, làm động tác tượng trưng theo lời hô của cụ mệnh:

- Làm lễ ?
- ăn trầu !
- Búi tóc!
- Vươn vai!

Cuối cùng, cụ mệnh hô: “đón cầu”. Một trai đinh ôm cầu chạy ra cổng đền. Mọi người đuổi theo ôm giằng lấy nhau. Một núi người chồng chất cao đến 2 - 3 tầm người. Người trèo lên, người ngã xuống, ai cũng cố giành lấy quả cầu. Cứ thế, quả cầu được di chuyển trong cảnh giằng kéo, dưới sự chỉ huy của người cầm cờ sai. Những trai đinh cầm mồng phết đuổi theo đám người cướp cầu. Kiệu Vua đi sau đám “Đả cầu - cướp phết”. Từ cổng đền ra đến Mô phết khoảng 250 mét. Mô phết đắp cao trên một tầm người. Mô phết tượng trưng cho cái mốc biên ải, được đắp ở vị trí giáp ranh với địa phận làng khác. Mô phết Hội đền Đông Lai được đắp ở giữa một thửa ruộng mười thước (240 m2), có trồng một cây gạo và một cây si, cành tán, rễ phụ che kín hết cả ruộng. Khi kiệu vua đi đến mô phết, đoàn người cướp cầu và cầm mồng phết cũng như người đi xem đều dừng lại. Một trai đinh khoẻ nhất ôm quả cầu đặt lên trên đỉnh mô phết. Cụ mệnh và cụ Từ mỗi người cầm một mồng phết cỡ đại lấy từ kiệu Vua xuống đứng hai bên làm động tác giao tranh, vả má ngựa vào nhau, rồi cùng ngoặc vào quả cầu cho rơi xuống chân mô phết. Các trai đinh tiếp tục xông vào cướp và giành giật. Ba hồi chiêng trống lại nổi lên. Kiệu Vua hồi cung trước, đám người cướp cầu tự do đến tối. Bao giờ cũng vậy phải cuối giờ Dậu (7 giờ tối) người cầm cờ sai mới điều khiển quả cầu về đến đền. Cụ mệnh phát giải cho trai đinh nào ôm quả cầu về trước. Giải thưởng là 4 quả bánh dày, 4 đồng tiền, 4 khăn mặt, 4 bánh pháo v.v... Cái gì cũng có bốn. Quả cầu được rửa sạch sẽ bằng nước giếng lấy ở vườn Rơm. Sau đó rửa qua rượu cất vào hậu cung, đặt cạnh chỗ Long ngai bài vị, có roi quất chèn bên cạnh. Các trai đinh người nào cũng dính đầy bùn đất, nhưng vui vẻ ra về với tâm trạng của người chiến thắng.

Đền Đông Lai hiện còn lưu giữ một quả cầu bằng đá có đường kính gần 40 cm. Theo các nhà nghiên cứu, quả cầu đó có từ thời tiền sử, vốn là một thứ vũ khí của 4 tướng (Xá Sơn, Lê Sơn, Tròn Sơn. Xui Sơn) được thờ làm Thành Hoàng xã Bàn Giản. Bốn tướng này thuộc chi III thời Hùng Vương. Theo thống kê của Bảo Tàng Hùng Vương (Phú Thọ) thì chi III thuộc chi Cấn, hiệu Hùng Quốc Vương, tên huý là Hùng Lân. Số năm giữ Vương Triều là 282 năm (2524 - 2253 TCN). Quả cầu đá là Linh vật để các tướng lĩnh luyện binh, luyện tài. Tục “Đả cầu - cướp phết” diễn lại thần tích đó.

Cuối cùng là hình thức đá cầu bằng chân được gọi là đả quần, giống như môn bóng đá ngày nay. Hình thức này chỉ gặp ở một điểm trên đất Vĩnh Phúc, đó là thôn Cựu ấp, xã Liên Châu (Yên Lạc), mà đấu thủ lại là các cụ già!
Trò chơi “đánh phết” cũng giống như môn khúc côn cầu (hay đánh gôn), rất thịnh hành ở Châu âu và đặc biệt được ưa chuộng ở nước Anh. Cướp cầu bằng tay có thể được coi là họ hàng xa xôi với môn bóng ném hiện đại. Còn “đả quần” cũng là hình thức bóng đá túc cầu) với những danh thủ, những trận đấu quốc tế nổi tiếng.

Giữa hình thức thô sơ của môn bóng cổ truyền trên đất Vĩnh Phúc với hình thức hiện đại của môn bóng quốc tế, có một điều ngược hẳn nhau trong lệ chơi: ở tất cả các trò diễn hội làng của người Việt, những phe đấu đều cố gắng giành quả phết, quả cầu về bên mình, cho lọt vào hố (lồ) của phe mình, giáp mình, thôn mình; còn các môn bóng hiện đại, đấu thủ đều tìm cách đưa bóng sang đất đối phương, cho lọt vào lưới hay gôn của đối thủ. Sự khác nhau này có một nguyên nhân: môn bóng hiện đại là một hình thức thể thao đơn thuần mà yêu cầu phải thắng đối phương bằng cách đánh thẳng sang đối phương “công thành phá lưới”; còn đánh phết chơi cầu của hội làng Vĩnh Phúc lại mang một ý nghĩa tín ngưỡng, quả phết, quả cầu về bên nào, bên ấy sẽ được thịnh vượng về mùa màng, dân số, do đó phe nào chơi cũng cố giành cầu về bên mình để được “may mắn” cả năm. Nghiên cứu trò chơi đánh phết - đả cầu của Vĩnh Phúc, chúng ta có thể khẳng định rằng đây là những trò diễn vui khoẻ thực sự bản địa là sự sáng tạo của cộng đồng Văn Lang - âu Lạc.
Dựa trên những truyền thuyết và quan niệm của nhân dân ta từ xưa, chúng ta còn có thể thấy những trò chơi này được ra đời từ thời Hùng Vương dùng làm hình thức luyện quân. Tới thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống ách đô hộ tàn bạo của nhà Đông Hán, hình thức luyện quân này càng được phổ biến.
Tóm lại, cướp cầu, đánh cầu hay đả cầu (đả quần), cũng như trò cướp phết hay đánh phết ở các làng xã tỉnh Vĩnh Phúc là một hình thức đua tài vui khoẻ rất hấp dẫn trong ngày hội làng của người Việt. Đây là trò chơi vừa rèn luyện sức khoẻ vừa giáo dục tinh thần thượng võ, cần khôi phục duy trì và phát huy.

Hội gậy và chạy cờ
Trò này có ở nhiều làng xã thuộc Vĩnh Phúc: Phù Lập, Tam Phúc, Lý Nhân, Bình Dương, Thượng Trưng, Tứ Trưng, Nghĩa Lập, Nghĩa Hưng, Đại Đồng.... (Vĩnh Tường); Dịch Đồng (Yên Lạc); Hương Canh, Yên Lỗ (Bình Xuyên) v.v...
Làng Hương Canh có trò đánh gậy, gọi là “hội gậy” diễn ra vào 4 ngày tháng Giêng âm lịch. Vào ngày này, xóm nọ đấu với xóm kia bằng thiết lĩnh tre, tức là hai đoạn gậy ba và bảy tấc (được gọi là mẹ bảy con ba) bện lại với nhau bằng tóc.

Ở thôn Yên Lỗ xã Đạo Đức (Bình Xuyên) cũng có trò tương tự như hội gậy, diễn ra ở ngoài đồng. Cả trẻ chăn trâu và người lớn cùng tham chiến rất hăng. Bên nào thua chạy về làng, đóng cổng lại. Đến ngày cuối cùng của Hội làng, cả hai bên thua và thắng đều sửa lễ ra đình và hẹn nhau gặp lại vào năm sau. Vẫn ở Yên Lỗ còn có trò chạy cờ. Thôn Yên Lỗ thờ Lý Bôn (Lý Nam Đế) anh hùng dân tộc, mở hội đình vào ngày 10 tháng Giêng. Trong ngày hội có tổ chức chạy cờ. Đường chạy khoảng nửa cây số, qua cả ruộng cày, ngòi nước. Trai đinh ai muốn dự cũng được. ở một gốc gạo ven sông có cắm hai lá cờ: một cờ nhất và một cờ nhì. Ai mang được cờ nhất về đình sẽ được chào đón như một vị tướng. ở đây có điều độc đáo là những người dự thi chạy cờ xong lại dự luôn cuộc thi giã gạo nấu cơm. Các cụ cho biết đây là một tục lệ kỷ niệm người anh hùng Lý Bôn (Lý Nam Đế) luyện tập quân sĩ, dựng cờ khởi nghĩa, cùng nhân dân đánh quân xâm lược nhà Lương, sáng lập ra nhà Tiền Lý và nhà nước Vạn Xuân.

Gần với chạy cờ, ở thôn Phong Doanh, Bình Dương (Vĩnh Tường) chạy chòi được tổ chức vào ngày 30 tháng Chạp. Từ sáng sớm cả làng nổi trống thanh la. Nhà nào cũng có người chạy khắp làng, vừa chạy vừa gõ những thứ mang theo và cùng reo hò. Cuối cùng, dừng lại ở một cái gò đất gọi là “mô nhà chòi” để ăn cỗ. Dân gọi là tiệc ăn mừng. Các cụ kể rằng đây là một tục lệ kỷ niệm việc nhân dân ta đánh đuổi giặc ân.
Thôn Phù Lập, xã Tam Phúc (Vĩnh Tường) có múa đao và đánh gậy sáng mồng 3 Tết. Cuộc đua có cả nam nữ tham gia nên rất sôi nổi. ở cuộc múa đao và đánh gậy này người ta không chỉ thấy tinh thần thượng võ mà còn thấy tinh thần bình đẳng, dân chủ nam nữ. ở làng Dịch Đồng (Yên Lạc) có tục đấu gậy vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch. ở đây có khác các nơi khác là không phải ai muốn vào đấu thì đấu, mà do làng cử hai người đàn ông vào độ tuổi bốn mươi, đông con và không có tang để đấu gậy. Người vào đấu mang áo dài và thắt lưng bao ai chọc được đầu gậy vào bụng đối phương là thắng cuộc. Trò đấu gậy ở Thượng Trưng (Vĩnh Tường) lại có nét khác: Gậy ở đây là một con sào gỗ cạo thật trắng, đầu bọc vải bôi phẩm đỏ. Khi đấu, ai bị nhiều chấm đỏ vào quần áo là thua. Có nhiều cuộc đấu, các đấu thủ ngang sức, ngang tài, đấu cả buổi mà vẫn giữ được trên quần áo không có vết. Chỉ có nam dự đấu, giải là một be rượu và vài quả cau.

Kéo co
Kéo co là một trò chơi vui khoẻ tập thể rất phổ biến ở Hội làng. Trò chơi này không đòi hỏi nhiều công phu luyện tập như đấu vật, không đòi hỏi sức lực cường tráng và sự tranh cướp quyết liệt như đánh phết - cướp cầu, không gây thương tích cho thân thể như trò đấu gậy. Kéo co là một trò chơi giản dị và đầy tiếng vui cười.

Ở Vĩnh Phúc, thường có trò chơi kéo co bằng dây song, cũng có nơi kéo bằng dây tre, hoặc cả cây tre. Người chơi chia làm hai bên, thi nhau kéo một sợi dây dài khoảng 20 mét về bên mình. Quãng giữa dây có buộc túm vải màu đỏ làm chuẩn. Chuẩn đó đặt ngang với vạch vôi hay vòng vôi trên mặt đất. Khi kéo, chuẩn vải sẽ di chuyển khỏi vạch vôi và nhích về phía bên nào kéo khỏe hơn. Bên này kéo, bên kia co lại gọi là kéo co. Cái vui ở đây là bên thắng cuộc thường bị ngã vì bên thua sẽ buông tay. Và đã ngã là ngã chổng cù, người nọ đè lên người kia. Là một trò chơi, nhưng khi được tổ chức ở hội làng, thì kéo co nhiều khi cũng được gắn cho một ý nghĩa tín ngưỡng nào đó.

Trò kéo co ở Tích Sơn (Vĩnh Yên) chính là để nhớ lại những cuộc tập trận để đánh giặc Nguyên Mông (thế kỷ 13) của bảy anh em họ Lỗ (Thất vị Lỗ Đinh Sơn) - những người sau khi mất được thờ ở Tích Sơn. Sách “Đại Nam nhất thống chí” có chép về tục kéo co ở Tích Sơn như sau: “Xã Tích Sơn, huyện Tam Dương (*) thờ bảy vị thần họ Lỗ. Sáng ngày mồng 3 tháng Giêng âm lịch, sau khi tế xong người trong xã chia nhau đứng ra hai bên Đông Tây; anh đứng bên đông, em đứng bên tây, chia thành hai giáp rồi dùng cái dây mây to dài hơn mười trượng, người đứng hai bên Đông và Tây, mỗi bên cầm một đầu dây kéo co ba lần, bên nào kéo được đối phương bước lên ba bước thì được giải. Giáp bên Đông được nhiều lần thì năm ấy được mùa, giáp bên Tây thua nhiều lần thì năm ấy sẽ mất mùa hằng năm. Người ta thường căn cứ vào đây để nghiệm việc làm ruộng.

 (*) Xã Tích Sơn nay thuộc thành phố Vĩnh Yên.

Cũng có khi trò kéo co còn được đặt thêm nhiều chi tiết phụ. Chẳng hạn như ở Tích Sơn, hội kéo co còn được gọi là hội võ. Bãi hội võ có vẽ vạch vôi quanh chỗ kéo co làm giới hạn; ai vô ý bước qua vạch, bất cứ người đó chức vụ gì đều bị “đâm bò”. “Đâm bò” có nghĩa là bị người xem quanh đó túm lấy nhấc bổng lên rồi cứ thế chuyền tay người này qua người khác một hồi trong tiếng cười vui của mọi người dự hội.
Ba làng Hương Canh (Bình Xuyên) tổ chức kéo co ở sân đình Ngọc và sân đình Hương. Dựng một cột lim chắc khoẻ ở sân đình có đục lỗ luồn một sợi dây song dài qua. Bốn đơn vị thi kéo co là làng Hương, làng Tiên, làng Ngọc và thôn Đại Đồng. Khi trong đình tế xong thì nổi tiếng chiêng và cuộc kéo co bắt đầu. Mỗi bên cử 25 tráng đinh vào kéo. Họ khoẻ mạnh, đầu chít khăn đỏ, lưng thắt bao đỏ. Bên nào cũng có một người cầm cờ đuôi nheo chỉ huy. Người cầm chịch ấy gọi là ông lấy mực. Do co kéo nhau nên nhiều khi sợi dây song cọ vào lỗ cọc lim bị nóng bốc khói làm sợi dây bị cháy, đứt đôi, người hai bên ngã bổ ngửa chồng lên nhau. Mỗi buổi chiều làng thi kéo co 4 hiệp, cứ sau 3 phút lại nghỉ giải lao. Phần sợi song của mỗi bên tính từ giữa cọc ra 1 mét có buộc vải màu đánh dấu. Nếu bị đối phương lôi mạnh, chỗ đánh dấu chui vào lỗ cọc thì bị thua. Bên thắng được làng thưởng hậu hĩnh bằng gạo, lợn, bò đủ cho trai đinh giáp mình sửa cỗ bàn ăn uống mừng thắng trận.

Trò kéo co ở làng Hoà Loan, xã Lũng Hoà (Vĩnh Tường) không chỉ là trò chơi hội làng mà còn để nhắc lại một kỳ tích của nữ tướng Lê Ngọc Trinh thời Hai Bà Trưng. Lê Ngọc Trinh quê xã Lũng Hoà, đã dựng cờ nghĩa theo Hai Bà Trưng. Các cụ kể rằng khi nương nương bị vây hãm đã lấy yếm và giải yếm buộc đá để đánh giặc. Hòn đá rơi về địa phận làng Lũng Ngoại (xã Lũng Hoà) nên Lũng Ngoại có tục Hú đáo (sẽ giới thiệu sau), giải yếm bay về địa phận Hoà Loan, nên Hoà Loan có tục kéo co. Năm nào cũng vậy, hội làng từ mồng 4 đến mồng 10 tháng Giêng, đều có thi kéo co. Vì tục kéo co gợi nhớ chiến công của một nữ tướng, nên tất cả mọi người, già trẻ, nam nữ đều tham gia. Luật chơi cũng tương tự như các nơi.

Hú đáo
Cũng như trò Kéo co ở Hoà Loan, trò Hú đáo ở Lũng Ngoại (cả hai làng đều thuộc xã Lũng Hoà - Vĩnh Tường ) liên quan đến chiến tích của nữ tướng Lê Ngọc Trinh được thờ ở miếu Lũng Ngoại, đình Lũng Ngoại và đình Hoà Loan. ở Lũng Ngoại trong các ngày cầu tế đầu xuân có tục Hú đáo mang tính chất kỷ niệm tưởng nhớ người anh hùng.
Trò này không giới thiệu cùng với trò “đánh đáo đá” (ở mục trò chơi giả trí), vì cách chơi của Hú đáo đòi hỏi phải có sức khoẻ, nên đặt ở mục trò diễn vui khoẻ thì hợp hơn.

Hú đáo còn gọi là Đáo cọc. ở cuối bãi chơi có một cái cọc là đích nên gọi là đáo cọc. Trong khi chơi người xem hú hét, reo hò cổ vũ nên gọi là hú đáo. Hú đáo, hay đáo cọc dân làng tổ chức chơi ở một khoảng đất trống ở ngay trước cửa đình. Khoảng đất này chiều dài độ mười thước.
ở một đầu khoảng đất này có đóng một chiếc cọc trên ngọn phấp phới mấy lá cờ đuôi nheo ngũ sắc, Người tham dự đứng ở mé đầu kia khoảng đất. Đáo chơi bằng những viên đá tròn. Người chơi đáo phải ném viên đá thế nào để viên đá tới nằm ngay ở chân cọc, viên đá càng gần chân cọc bao nhiêu càng tốt chừng đó. Những người chơi đáo có thể dùng viên đá của mình đánh bật viên đá của người khác ra xa chân cọc. Mỗi lần như vậy tiếng hú hét hò reo lại càng sôi động.

Ở Lũng Ngoại, cuộc chơi Hú đáo hàng năm đều bắt đầu bằng một nghi lễ trịnh trọng. Ngày xưa là ông Tiên chỉ làng, sau này là các vị cao niên trong làng ra làm lễ tại đình rồi ném viên đá đầu tiên. Sau đó đến dân làng chủ yếu là nam thanh nữ tú. Họ vừa chơi đáo, vừa cười đùa vui vẻ.
Ai cũng tin rằng nếu viên đá của mình hú trúng, nghĩa là nằm sát ngay chân cọc, trong năm sẽ gặp nhiều may mắn.

Bơi chải
Vĩnh Phúc kề sát ngay vùng Ngã Ba Hạc mênh mông sông nước Lô, Thao, Đà. Có sông có nước nên nhiều làng ven sông có tổ chức thi bơi chải, đua chải trong những dịp hội làng. Hội đua chải phần nhiều tổ chức vào mùa hè, trong các tháng 5 và 6 âm lịch. Dân làng gọi trang trọng là “Tiệc bơi” vì còn một lẽ khác trong thời gian Hội chải, các gia đình ven sông thường làm cỗ trước là lễ thánh, sau mời bạn khách về thết đãi. Các xã ven sông thuộc Vĩnh Phúc còn truyền tụng những câu phương ngôn:

Rau gác Hạc bơi
Hạc gác Me bơi
Me gác Đức Bác bơi
Đức Bác gác Dạng bơi

Đó là nói về trình tự các cuộc đua chải ở các xã vùng Ngã Ba Hạc.
Rau là Cựu ấp, xã Liên Châu (Vĩnh Tường) thờ Tam Giang Đại Vương Thổ Lệnh, đua chải vào các ngày 10 và 12 tháng 5 âm lịch. Cuộc đua có 4 chải của 4 giáp. Thân chải, dầm chèo đều sơn đỏ, các tay chèo mặc quần áo xanh đỏ, thắt lưng đai màu. Chải xuất phát từ Bến Đình bơi sang địa phận xã Xuân Vân thuộc đất Hà Tây bên kia sông để lấy né tằm về. Có khi chải cùng đến xô vào nhau, người nhảy ùa lên bờ tranh cướp các né tằm. Cựu ấp có nghệ trồng dâu nuôi tằm rất lâu đời nên mở hội đua chải cướp ne tằm để cầu may.
Sau Rau, tới tiệc bơi làng Bạch Hạc, tức Kẻ Hạc (trước thuộc Vĩnh Tường, nay thuộc Việt Trì). Bạch Hạc cũng thờ Tam Giang Đại Vương, thuỷ thần Ngã ba sông. Hạc mở hội vào ngày 20 tháng 5 âm lịch. Hạc có 4 giáp: Tiên Hạc, Đông Nam, Thần Trúc, Bộ Đầu. Mỗi giáp một chải, mỗi chải sơn một màu. Chải Tiên Hạc màu xanh, chải Đông Nam màu trắng, chải Thần Trúc màu đỏ, chải Bộ Đầu màu vàng. Khi nào đua quần áo các tay chèo, cờ và mái chèo đều cùng màu với chải. Chải ở Bạch Hạc là chải gỗ đẽo liền một tấm không chắp nối. Mỗi chải có 24 khoang gọi là phách với 48 tay chèo, một người lái, một người gõ mõ hiệu, tổng cộng là 50 người. Người gõ mõ làm hiệu lệnh cho các tay chèo, tay gõ, miệng hô: “Do huỵch! Hồ huỵch”.
Buổi sáng ngày tiệc tế, các chải bơi từ cửa đình Hạc về tới Gát, tức là làng Tiên Cát ở Việt Trì (nay là nhà máy xay), sau đó quay về cầu Việt Trì rồi về đình Hạc.

Me là xã Yên Lập (Vĩnh Tường). Xã Yên Lập có hai làng Phù Yên và Hạc Đình cùng thờ “Đăng Đại Song Nga”, vị thần đã xuất hiện ngày 25 - 5 Trưng Vương khởi binh đánh Tô Định và đã theo giúp Hai Bà. Hàng năm hai làng mở hội từ 25 đến 27 tháng 5 âm lịch, ngày nào cũng tổ chức thi bơi chải.

“Địa chí tỉnh Vĩnh Yên” chép về hội chải Kẻ Me như sau:
“Hai làng Phù Yên, Hạc Đình phủ Vĩnh Tường thờ Đăng Đạo Song Nga có công âm phù Hai Bà Trưng đánh Hán. Từ 25 đến 27 âm lịch mở hội đua thuyền. Các thôn Phù Yên, Bồ Thôn (hay Bồ Sao) của làng Phù Yên (thuộc Kẻ Me) và làng Hạc Đình (cũng về Kẻ Me) mỗi thôn một thuyền gỗ chò dài 20 mét, rộng 2,2 mét, hai đầu sơn đỏ, giữa sơn đen. Mỗi thuyền 40 người một người đứng đằng trước cầm lá cờ đỏ, một người bẻ lái và 38 tay chèo.

Bắt đầu hạ chải vào ngày 24 ở sông Phó Đáy trước cửa đình. Sáng 25 đua chải từ đình tới làng Diệm Xuân. Chiều 26 bơi tới Bến Cả làng Nghĩa Yên. Ngày 27 đua tới đình làng Hội Chữ vào ngày 26. Sau cuộc đua thuyền là rước kiệu bát cống đặt trên 3 thuyền kết lại, đi từ cửa đình sang bên kia sông đến một cái gò để thỉnh Đức Thánh Tản Viên, bạn của thần Đăng Đại Song Nga.
Chiều 27 tế giã đám, kéo thuyền lên bờ...”

Các cụ ở Me còn kể thêm như sau: các chải bơi từ bến Me ra đến Diệm Xuân gần ga Bạch Hạc khoảng 2 km. Đường sông đoạn này hình cong như vành khuyên đeo tai. ở đích có ba cái cờ cắm trên thân một cây chuối, màu cờ khác nhau để phân biệt nhất, nhì, ba. Chải nào tới đích sẽ cướp cờ rồi về nhận giải.

Thời gian bơi chải là ba ngày:
Ngày 25, thi bơi. Trước bơi thi có bơi dạo, gọi là bơi “Trình thuyền” với ba cái chải buộc ghép vào nhau, trên chải có đặt kiệu thờ. Bơi tới bãi Ba Chạ thuộc làng Phú Hậu xã Sơn Đông (Lập Thạch) thì làm lễ trên chải để đón “Ngài” về mở hội
Ngày 26 thi bơi. Buổi chiều, bơi hai lần cướp giải cờ.
Ngày 27, tiếp tục thi bơi. Buổi chiều ba lượt rồi lại bơi rước kiệu về ngã Ba Chạ để “tiễn thánh về”.
Hội bơi Hạc và Me được người các nơi về xem rất đông. Hàng trăm thuyền của các vạn chài và các xã vùng Ngã Ba Bạch Hạc đổ về xem đua chải.

Quang cảnh hội chải tưng bừng náo nhiệt. :
Sau Me đến xã Đức Bác (Lập Thạch) bên sông Lô mở hội đua chải, từ ngày 10 tháng 6 âm lịch trong tiệc tế Bát Nàn Công Chúa là tướng của Hai Bà Trưng. Đoàn đua bơi sông Lô sang xã Phượng Lâu cướp một nồi mạ đem về Đức Bác gác chải, mới tới Dạng hạ chải. Dạng là xã Tứ Yên (Lập Thạch) cũng ở bên sông Lô, có hội đua chải vào các ngày 25, 26 tháng 6. Tứ Yên có 4 thôn: Yên Lương, Yên Phú, Yên Mỹ, Yên Lập mỗi thôn một chải. Mỗi chải có 46 tay chèo bơi từ bến Yên Lương tới bến Yên Lập rồi lại bơi trở về. Dọc sông theo đường bơi đều cắm cờ. Ngày 26 cả 4 chải đều rước một bát hương từ đình làng mình sang bờ bên kia thuộc xã An Đạo (Phù Ninh, Phú Thọ) với ý nghĩa đón Vua Hùng sang với trang trại Yên Lương, Yên Lập là hai Yên đầu tiên của Tứ Yên do Tản Viên Sơn Thánh chiêu dân lập ấp mà thành.

Đó là hội bơi chải của 5 làng xã đã được tổng kết thành phương ngôn. ở huyện Vĩnh Tường còn có một hội bơi nữa, tuy không có trong phương ngôn, nhưng nghi lễ và cách tổ chức xem ra có phần trọng thể và hoành tráng hơn. ấy là Tục bơi chải ở Vĩnh Ninh. Tục bơi chải ở đây cũng là để tưởng nhớ Đức Thánh Tản. Truyện rằng, xưa kia, có lần Đức Thánh đi qua làng Duy Bình (Vĩnh Ninh), nhân lúc nóng nực, Ngài nhờ một cô gái đang cắt cỏ dùng sọt đựng cỏ gánh nước sông Hồng lên cho ngài tắm. Trong lúc ngài tắm dội cô gái chạy vội về làng kể chuyện lạ. Dân làng vội mang lễ vật ra thì đoàn quân của Đức Thánh đã rời gò, xuống thuyền hướng mũi sang bên kia sông. Lập tức hàng trăm chiếc thuyền của dân chài Vĩnh Ninh tung chèo lao theo. Cảm kích tấm lòng thơm thảo của dân làng, Đức Thánh Tản ban cho một cuốn bảo bối dạy cách trồng dâu nuôi tằm, trồng ngô, đỗ, lúa, khoai phù hợp với đất phù sa mầu mỡ. Làng Duy Bình lập đền thờ Ngài, gọi là Đền Ngự Dội, ý nhắc tới việc Ngài đã từng tắm dội ở đây, và lấy ngày 15 tháng Giêng làm ngày mở hội, gọi là hội “Đền Dội”. Ngày ấy dân làng sửa lễ, thành tâm dâng lễ ra đền. Tiếp đó, hàng trăm chiếc thuyền trong đó có một chiếc thuyền to trang trí lộng lẫy chờ sẵn ở ngoài sông. Khi đoàn người rước kiệu từ gò Duy Bình, nơi thờ Đức Thánh Tản, tới bờ sông thì hàng ngàn người reo hò vang dội hoà cùng tiếng trống mõ từ các thuyền từ dưới sông vang lên. Lúc ấy là lúc chiếc kiệu vàng mang theo một cái choé để đựng nước từ từ tiến xuống chiếc thuyền to, có đầu rồng và 19 trai làng khoẻ mạnh, mặc áo nỉ, quần hồng, quấn khăn mỏ dìu đứng hai bên mạn thuyền chờ đón. Khi chiếc kiệu choé đã yên vị ở thuyền to, một hồi trống vang lên, đoàn thuyền tiến ra giữa sông. Đoàn thuyền con lao ra lao vào, lượn quanh thuyền to trong tiếng reo hò vang mặt sông. Ra đến giữa sông, cụ chủ tế múc nước đổ đầy choé, đoàn thuyền quay mũi hướng về đền Dội. Một số thuyền con bơi vào bờ trước báo tin vui. Các thuyền khác bơi quanh thuyền lớn như bảo vệ. Thuyền lớn sáp bến, 4 người trong thuyền khiêng kiệu lên bờ rồi đặt choé nước thiêng vào kiệu lớn rước về đền tế lễ, tiến hành thủ tục tắm cho Đức Thánh.

Ngoài sông, mỗi thôn cử một đội tuyển kèm theo một chiếc thuyền vào cuộc thi bơi chải. Các thuyền vào vạch xuất phát, khi có lệnh các thuyền lao thật nhanh, các tay bơi quạt tới tấp để đạt tốc độ cao nhất. Người lái dùng kỹ thuật điêu luyện giữ cho thuyền thăng bằng và đưa thuyền đi theo con đường ngắn nhất tới đích. Đường bơi từ bờ Vĩnh Ninh sang bờ Xuân Chiểu rồi quay lại. Chiều ngang sông Hồng ở đoạn bơi thi khoảng gần 1000 mét, nước chảy xiết đòi hỏi các tay bơi phải khoẻ, sức bền, thuyền tới đích sớm nhất cũng phái mất khoảng 30 phút. Thuyền đông, đường đua chật, ai cũng muốn bứt lên trước mong kịp được Đức Thánh như ngày xưa đoàn thuyền mang lễ vật dâng Ngài. Những cuộc thi như vậy cứ diễn ra hàng năm, không những để đua sức đua tài, mà việc thắng cuộc còn là điềm may cho cả năm. Vì vậy, ngay sau lễ hội và các cuộc thi bơi chải, từng thôn lại chuẩn bị cho lễ hội năm sau. Người lớn dạy cho trẻ nhỏ, người lớp trước dạy người lớp sau. Người dân xã Vĩnh Ninh ai ai cũng biết bơi, biết chèo thuyền và có thể lực rất tráng kiện.
Ngoài các đua chải bên sông, Vĩnh Phúc còn có một số làng xã đua chải ở vực hay đầm. Chủ yếu là ở huyện Vĩnh Tường : xã Tam Phúc đua ở vực Quảng Cư, xã Phú Đa đua ở đầm Phú Đa, xã Vũ Di đua ở Vực Xanh, xã Tứ Trưng đua ở Đầm Dưng, xã Thượng Trưng đua ở đầm Thượng Trưng.

Tục đánh quân
Trò này có thể xếp cùng với các trò “Hội gậy”, “Múa đao”, “Chạy Cờ”, nhưng chúng tôi tách riêng ra để giới thiệu kỹ về Tục đánh quân ở làng Yên Thư, xã Yên Phương (Yên Lạc).
Tục đánh quân có ở nhiều địa phương, mỗi nơi có những dáng vẻ, những điển tích khác nhau. Các làng Tuân Lộ, Phù Chính (xã Tuân Chính, Vĩnh Tường) nam nữ giao chiến suốt 6 ngày, từ mồng 4 tới mồng 10 tháng Giêng âm lịch. Xã Lý Nhân (Vĩnh Tường) dân hai thôn đấu gậy dài vào đêm 30 Tết, dồn nhau về tận nhà mới thôi, rồi thay quần áo đón giao thừa. Làng Cựu ấp (xã Liên Châu, Yên Lạc) lại đánh quân vào tối đêm rằm trung thu. Làng có 2 xóm: Xóm Chùa hay Tứ Khu và xóm Đình hay Đình Chảo, lấy đường giữa hai xóm làm ranh giới, trai tráng chia làm hai phe, cầm gậy tre giao chiến, có lúc đánh trận địa, có lúc đánh phục kích, lúc dồn đuổi nhau. Trẻ em đi thám thính. Cụ già hò reo trợ chiến. Bên nào núng thế bỏ chạy, mất vũ khí hoặc có người bị bắt là thua. Nếu chưa phân thắng bại thì tối 16 đánh tiếp.

Đa số các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đều nhận định Tục đánh quân gắn với tín ngưỡng địa phương, có nhiều cơ sở để kết luận đây là một tục lệ, một nghi lễ hay một trò chơi rất cổ của những hội làng xa xưa. Cho đến nay, các cụ nhiều tuổi nhất cũng không giải thích được rõ về nguồn gốc, ý nghĩa của tục lệ này một cách rành mạch, dứt khoát và nhất quán.

Riêng tục đánh quân ở làng Yên Thư, xã Yên Phương là có cách giải thích thích hợp lý và ý nghĩa hơn cả. ở Yên Thư trước đây có tục “Mục đồng đánh quân”, “chợ mục đồng”. Theo các cụ, đó là hình thức vừa vui chơi vừa tập trận do Đinh Tiên Hoàng hướng dẫn khi đi qua địa phương dẹp sứ quân Nguyễn Khoan (tức Nguyễn Thái Bình) đóng ở Kẻ Mỏ (xã Minh Tân bây giờ).

Hàng năm, vào ngày 28 tháng Chạp, trẻ em trong làng chia làm hai phe cầm sào và gây đánh lộn với nhau trong buổi, bên nào có em ngã trước là thua. Đánh quân xong, các em kéo nhau về ăn cơm. Buổi chiều các em mặc quần áo mới, rủ nhau đi họp “chợ mục đồng”, không phân biệt phe phái gì nữa. Lúc này các em lại rất thân mật với nhan. Các em trai và gái bày hàng ở trước mặt, kẻ mua người bán tấp nập như một phiên chợ thực sự. Hàng hoá là những sản phẩm ở vườn nhà hoặc những thứ do cha mẹ, anh chị làm ra: Trầu cau, hoa quả, bánh trái, kẹo, bỏng... Khách mua cũng xem hàng, chọn hàng, cũng mặc cả như người lớn. Các cụ nói đây là cuộc đi mua sắm về để khao quân.
Ngày xưa, xã dành 3 sào ruộng gọi là “Ruộng mục đồng”. Trong cuộc đánh quân, phe nào thắng trận sẽ được bán trương ba sào ruộng ấy lấy tiền chia cho các xóm.

Ngày nay, vào dịp hội làng hoặc những ngày kỷ niệm lớn trong năm, chính quyền địa phương nên giao cho Đoàn thanh niên và Ban Văn hoá xã tổ chức cho các em luyện tập và thi đấu võ dân tộc, vừa có tác dụng rèn luyện sức khoẻ, vừa nhắc nhở truyền thống thượng võ, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của cha ông.

Trò đánh lồ vịt
Đánh lồ vịt hay còn gọi là đánh dồn vịt, là một trò chơi đã có từ lâu đời ở các xã phía đông nam tỉnh Vĩnh Phúc, chủ yếu ở các làng thuộc xã Thanh Tước cũừ, nay là Thanh Lâm (Mê Linh).
Đây là một môn thể thao vui khoẻ, lý thú, đối tượng chơi rộng rãi ai chơi cũng được), sân bãi, dụng cụ đơn giản, không tốn tiền chỉ tốn ít công.
Không khí khi chơi cả người xem lẫn người chơi đều tưng bừng náo nhiệt và quyết liệt. Luật lệ ngắn gọn, tự nhiên, chặt chẽ.
Các cụ ở Thanh Tước kể lại một số điều về luật, sân bãi và dụng cụ như sau.

Về luật chơi: đấu thủ không phân biệt tuổi tác, nam, nữ, miễn là tự nguyện tham gia. Số người chơi tối thiểu 3, tối đa 12 ngời, tuỳ theo bãi chơi rộng hẹp. Thông thờng chơi từ 5 đến 6 ngời. Bắt đầu chơi, mọi thành viên đều phải “cú” để tìm ra người dồn vịt đầu tiên. “Cú” tức là cầm cây gậy của mình hất “con vịt” lên cao, sao cho vịt rơi xuống chạm vào đầu gậy là một “cú”. Ai cú được ít nhất là người dồn vịt đầu tiên. Sau đó con vịt được đặt chính giữa bất kỳ một cửa nào, người giữ của đó phải dùng gậy đánh mạnh vào “con vịt” cho văng thật xa. Người dồn vịt phải theo ra dồn “con vịt” đó vào lồ chính ở giữa trận. Vịt vào lồ chính qua cửa nào, người ấy phải ra dồn vịt thay. Người giữ lồ là người phụ trách từng cửa. Một người một cửa. Giới hạn khoảng cách mỗi cửa là từ lỗ của mình đến lỗ của bạn liền kề theo chiều kim đồng hồ. Nếu để con vịt của mình chui vào lồ to ở giữa trận, hoặc mình dùng gậy đánh cản “con vịt” mà bị người dồn vịt chọc gậy vào lỗ của mình trước thì phải ra dồn vịt thay. Cứ như vậy, tuỳ theo sức khỏe, mưu trí của người dồn vịt, người giữ lồ mà thay đổi vị trí. Có trường hợp người dồn vịt bị “hầm” suốt buổi. Trường hợp này cuối buổi chơi, những ngời giữ lồ cho người dồn vịt khất đến buổi sau dồn tiếp hay phải nộp cỏ cho trâu của họ ăn, hoặc những người giữ lồ ngồi xếp bằng tròn thành một hàng, tay chống cây gậy một bên bắt người thua cuộc (tức người dồn vịt mà không dồn được con nào vào lồ) phải quỳ vái ba vái và nói ba lần: “Em kém xin các anh chị tha cho!”. Mọi người dự hội cùng cười vang.
Về dụng cụ: Một con vịt được đẽo bằng củ tre khô hình bầu dục gần giống con vịt, to bằng quả trứng vịt to. Mỗi người chơi có một cây gậy dài từ 50 đến 60 cm, đường kính tối đa 2 cm. Để đảm bảo độ bền và nhẹ cả con vịt và những chiếc gậy đều làm bằng tre phơi khô tái tốt nhất là tre chết dó tại bụi

Về sân bãi: Thường là những bãi thả trâu tương đối bằờng phẳng có diện tích tối thiểu 100m2, rộng gấp hai ba lần càng tốt. Chính giữa bãi đào một lồ tròn đường kính 20cm, sâu 10 cm (gọi là lồ), xung quanh cách lồ từ 50 đến 100cm là các lồ nhỏ bằng nắm tay sâu 3 - 4 cm cách đều nhau trên một đường tròn. Tuỳ theo số người chơi mà chia ra các lỗ nhỏ.
Ví dụ: sân có 4 cửa, 5 người chơi: 

 Trò đánh lồ vịt lý thú ở chỗ mỗi thành viên tham gia đều phải huy động nhiều bộ phận trên cơ thể cùng một lúc: chân, tay, mắt... Mỗi khi “con vịt” vào tới khu vực giữa lồ, không khí xao động hẳn lên: các cây gậy nhỏ và con vịt, va đập chí chát, người qua lại đan chen. Người dồn vịt tìm cách dồn vịt vào lỗ giữa. Người giữ lồ lo bảo vệ lồ của mình đồng thời đánh “con vịt” đi chệch hướng. Người xem hò hét, cổ vũ, hồi hộp.

Trước đây trò đánh lồ vịt thường diễn ra vào dịp tế Thành Hoàng hàng năm. Thành Hoàng là ngài Trần Minh Hiến có công bình giặc Chiêm Thành thời nhà Trần, được vua Trần phong ấp ở vùng Thanh Tước. Sau khi ngài mất dân làng tôn làm Thành Hoàng làng.
Trò đánh lồ vịt vừa là trò thể thao vui khoẻ, vừa gợi lại thời kỳ luyện quân đánh giặc của Đức Thành Hoàng lại có tác dụng thúc đẩy tinh thần thượng võ của toàn dân.

Trò Tả cáy
Gần với trò Đánh lồ vịt ở Thanh Lâm, Thanh Tước là trò Tả cáy của người Sán Dìu (Tả cáy tiếng Sán Dìu có nghĩa là “đánh gà”). Các làng người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc đều chơi trò “tả cáy” vào các dịp lễ hội. Đây là trò Tả cáy của người Sán Dìu ở vùng Thanh Lanh (Bình Xuyên).
Con gà làm bằng gỗ, tròn bằng quả bóng bàn.

Có thể từ 5 đến 10 người cùng chơi, mỗi người cầm một cái gậy dài hơn một mét bằng tre hoặc bằng gỗ.
Bãi chơi tuỳ theo từng làng. Càng rộng càng có nhiều người cùng chơi, nhiều người xem, sự ganh đua, cổ vũ càng sôi động. Người ta đào một lỗ bằng cái bát con ở giữa bãi chơi, để “con gà” dưới lỗ. Người đứng cái cầm cây gậy gảy con gà ra khỏi lỗ. Những người khác cầm gậy hối gà vào lỗ. Người đứng cái vừa phải cầm gậy hối gà đi vừa phải để ý đỡ đòn kẻo gậy của người khác đập trượt vào chân mình. Cứ mỗi lần có người bị gậy đập vào chân, người xem lại reo hò sôi động, làm cho người ấy lúng túng, hối gà càng khó khăn hơn.

Người nào đứng cái giỏi, giữ cái lâu nhất, không có gà lọt xuống được coi là thắng cuộc. Khi để gà lọt xuống lỗ thì người đứng cái phải ra làm con để người hối gà xuống lỗ vào đứng cái. Ai đứng được cái nhiều lần trong cuộc chơi là người trong năm có nhiều may mắn, làm ăn thịnh vượng.

Những trò diễn vui khoẻ trong Hội làng đình dám, có nhà nghiên cứu gọi là những trò mang tính chiến đấu. Quan niệm như vậy cũng đúng, nhưng nó làm giảm đi mất đôi phần sắc thái Hội làng. Vấn đề không hẳn ở cách gọi, mà ở nguồn gốc của các trò. Thực tế, khó có thể quy kết tất cả vào một nguồn gốc duy nhất như có tác giả đã định làm. Mỗi trò đều có nguồn gốc khác nhau, lại còn biến hoá đi theo thời gian và thực tế địa phương. Ví dụ các trò kéo co, đấu vật vốn là trò chơi vui khoẻ. Sau này được tổ chức trong các dịp lễ thành hoàng, một số địa phương gán vào đó ý nghĩa cầu may, cầu chúc cho làng ta được bình yên, mùa màng tốt đẹp v.v... , bên nào thắng cuộc là bên ấy đạt được những điều mong ước. Các trò đánh phết, cướp cầu, đua chải, đánh lồ vịt , tả cáy đã được các nhà dân tộc học cho là những hình thức nghi lễ cầu mùa, trồng trọt, chăn nuôi. Các trò đánh quân (mục đồng đánh quân, “hai làng đánh quân, thôn, giáp đánh quân...”) chỉ có thể hiểu là những cuộc tập trận của các làng chạ trong chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Các cụ phụ lão Cựu ấp “đả quần” chính là biểu hiện của truyền thống Diên Hồng.

Tóm lại, dầu quan niệm thế nào, điều quan trọng nhất vẫn là những trò vui khoẻ đó đều thực sự trở thành hình thức rèn luyện thân thể và kỹ năng chiện đấu.
Các trò diễn vui khoẻ trong hội làng chính là hình thức rèn luyện chiến đấu của một dân tộc luôn đứng trước yêu cầu chống ngoại xâm bảo vệ đất nước.

Trò đua tài thi khéo
Bên cạnh trò chơi giải trí và trò diễn vui khoẻ, trò Đua tài thi khéo cũng có ở nhiều hội làng. Trò đua tài thi khéo phần lớn dựa trên các sinh hoạt trong đời sống nông nghiệp như thi nấu cơm, thi làm cỗ, làm bánh, thi cướp cỗ, cướp cơm, cướp ngũ cốc, thi giết trâu, mổ lợn... Đó là những sinh hoạt văn hoá dân gian phản ánh hình thái xã hội nông nghiệp khi các chạ đã định hình, đông vui, khi hạt lúa do đổ mồ hôi mà có đã được chế biến ngày một tinh xảo và cạnh đó chăn nuôi gia đình cũng đã phát triển. Thông qua hội hè đình đám của làng xã với các trò đua tài thi khéo, nhân dân muốn biểu dương và cổ vũ đời sống nông nghiệp, tổng kết trao đổi kinh nghiệm làm ăn, góp phần đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống và phát triển văn hoá.

Đó là nhìn nhận chung của đa số các nhà nghiên cứu dân gian. Có một vài người căn cứ vào số phụ nữ tham gia các trò đua tài thi khéo chiếm đông, nên thiên về một ý kiến khác. Và gọi những trò đua tài thi khéo bằng một cái tên khác: Nữ công với phụ nữ Việt Nam. Quan niệm như vậy không hoàn toàn đúng (vì nhiều trò có cả nam tham gia), nhưng cũng có một chút cơ sở. Phụ nữ Việt Nam theo nếp sống cổ truyền xưa không mấy ai không là nội tướng (quán xuyến toàn bộ công việc trong gia đình). Mà đã là nội tướng thì mấy bà không đảm đang trong công việc nội trợ gia đình. Cái đức tình cần cù nhẫn nại lo cho gia đình, chăm sóc chồng con, vốn là cố hữu của người phụ nữ Việt Nam và với đức tính cố hữu này, người phụ nữ càng chú ý tới công việc nội trợ, từ đường kim mũi chỉ đến bánh trái bếp núc.
Mặt khác, các bậc cha mẹ cũng luôn luôn muốn con gái phải biết việc gia đình, biết từ trong bếp biết ra. Các cụ ta muốn đề cao việc nội trợ bằng cách để hàng xã, có khi cả hàng tổng trông vào khen ngợi những cô gái thổi nồi cơm khéo, đồ chõ xôi dẻo thơm, làm bánh trái hấp dẫn. Vì thế mà trong ngày hội làng có trò đua tài thi khéo.
Chúng ta hãy cùng đi vào những trò cụ thể để có dịp hiểu thêm về mục đích và suy ngẫm về ý nghĩa sâu xa của nó.

Nấu cơm thi
Trò này có tài liệu gọi là “Thi nấu cơm” hoặc “Thổi cơm thi”. “Thổi cơm thi”, có ở Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Mê Linh, Vĩnh Yên, Tam Dương.
Người dự thi nấu cơm đòi hỏi phải có tinh thần tập thể, tinh thần đồng đội, kỹ thuật cao và trí thông minh. Có nơi vừa phải xay giã, vừa nấu cơm.. Hầu hết là phải tự lấy lửa bằng một số hình thức cổ truyền. Thi nấu cơm bao giờ cũng phải có một tập thể cùng chung sức, ít nhất là hai người vào thi nấu biểu diễn, cộng với công sức của gia đình và hàng giáp trong “Hậu trường”. Vì nấu cơm thi phải có tập luyện, nấu thử từ gia đình tới giáp, trước khi ra đua tài thi khéo với làng xã. Nấu cơm thi phải được học hỏi và truyền thụ kinh nghiệm. Nam nữ đều được dự thi, thường là nam nữ cùng nhau cộng sức. Có nơi chỉ có nam thi.

Tiêu chuẩn được giải hoặc được coi là đạt yêu cầu ở mỗi địa phương cũng có khác nhau, nhưng về cơ bản là phải đạt được mức: cơm dẻo, nấu vừa chín tới, không khê, không nhão. Tóm lại, trong điều kiện khó khăn có thể nói là “oái oăm” nữa, như vừa đi vừa nấu, gánh nồi mà nấu, ăn mía lấy bã làm củi, cọ sát các thanh giang già vào nhau để lấy lửa... người tham dự vẫn thổi được nồi cơm ngon.
Xin điểm qua một vài hội thổi cơm thi được ghi trong “Từ điển lệ tục Việt Nam”.

Theo lệ làng Tích Sơn (xưa thuộc Tam Dương, nay thuộc Vĩnh Yên), vào ngày mồng 4 tháng giêng, đàn ông đến tuổi 40 phải thổi mỗi người một nồi cơm đem ra đình cúng thần, trình với các cụ và các quan viên. Là người làng, nhưng phải là người đã vào sổ của làng, nghĩa là đã nộp lệ hương ẩm mới được dự thi. Tiếng rằng lệ này áp dụng cho đàn ông, nhưng lại được các bà, các chị trong gia đình thổi cơm...
Xưa nay, nhiều nhà nghiên cứu về hội hè phong tục đều phải thừa nhận rằng dân làng Tích Sơn có một nghệ thuật thổi cơm cực khéo. Nồi cơm của họ chín không bao giờ có cháy, lại gióc nồi một cách lạ lùng. Hơn nữa, cơm tuy ở nguyên trong nồi, nhưng lại mịn như cơm nắm có thể cả một nồi cơm đổ ra chỉ là một nắm cơm, một nắm cơm không có vỏ, người thổi đã khéo dụng công, khiến nồi cơm không bao giờ có một mẩu cháy con. Khi ăn, xắt ra từng miếng, cơm vừa dẻo, vừa ngon, rất thơm lại man mát mùi nhựa gạo.

Để thổi cơm dự thi, mỗi người đều mua một chiếc nồi đất mới. Cơm thổi nồi đất không pha mùi kim khí của nồi đồng, nồi gang, giữ nguyên được mùi thơm thuần chất của lúa gạo. Mua nồi, các bà các cô thường kén chiếc nồi đất nung già, với mầu đỏ thẫm, nồi như vậy mới không bị bắt lửa, ám khói.

Cơm thổi ở nhà, phải thổi bằng 2 nồi, một nồi cũ và một nồi mới. Nồi cũ đun bếp lửa, nồi mới đun bếp than (than hoa). Khi nước sôi ở nồi cũ mới đổ sang nồi mới. Nước trong nồi mới sôi lại, mới đổ gạo vào. Gạo giã từ trước để ráo nước cho khỏi trương cơm. Đã đổ gạo vào nồi là phải ghế luôn tay, phải giữ cho than hồng từ khi nấu đến khi chín. Khi cơm cạn, dùng chiếc lá mít miết trên mặt cho mịn và như vậy, nồi cơm sẽ chắc như cơm nắm .Như thế tức là thổi cơm mở vung. Thổi khéo thì cơm dẻo mịn và thơm mát, nồi cũng không bị ám khói.

Đến giờ dự thi, mọi người mang nồi cơm của mình ra đình. Các nồi được xếp thẳng hàng ở nhà tiền tế, mỗi nồi đều có vung đậy, thành nồi đề tên bằng vôi. Hội đồng chấm thi gồm các bô lão và các quan viên đi xem từng nồi cơm, mở vung xem mặt cơm, nắm tay để hiểu độ dẻo. Hội đồng soát cơm xong, bao nhiêu nồi thổi khéo đều cho bưng đi, đấy là những nồi nhất và nồi nhì. Có nhiều nồi nhất và nhiều nồi nhì. Những nồi nhất dùng để cúng thần, sau đó các bô lão và các quan viên được hưởng và một phần biếu khách thập phương tới dự lễ thánh. Các nồi còn lại, dân làng cùng ăn với nhau, 4 người một cỗ, mỗi cỗ 2 nồi cơm.

Trong quá trình thổi cơm, có người không dùng bếp than mà nấu bằng nước sôi, bỏ gạo vào niêu đất đổ nước sôi vào lại chắt ra, cứ lặp đi lặp lại động tác này cho tới khi cơm chín. Các chức dịch hào lý cũng được dự thi.
Nếu hai nồi cơm ngang giải thì nồi cơm lý dịch sẽ được giải trên, còn nồi cơm bạch đinh bị đánh tụt xuống một cấp.
Các cụ cao tuổi ở Tích Sơn kể rằng sở dĩ người Tích Sơn biết thổi cơm ngon và khéo như vậy là do được Nàng Bảy (người em gái út trong số 7 anh em họ Lỗ) chỉ dạy trong thời gian phục vụ dân binh đánh giặc Nguyên - Mông. Chính nhờ có tục thổi cơm thi nên con gái làng Tích Sơn cô nào cũng thổi cơm rất khéo.

Xã Sơn Đông (Lập Thạch) nấu cơm thi vào ngày 8 tháng Giêng. Có 4 giáp đua tài, mỗi giáp mang theo 4 cân thóc, một chiếc nồi, một khúc gỗ xoan, ít phoi bào khô, vài chiếc lạt dang, lại lỉnh kỉnh cối giã, kiềng bằng cọc tre, nong, nia, dần, sàng. ở đây, thi bắt đầu từ hạt thóc cho vào cối giã cho tới khi được nồi cơm. Vì nhiều công đoạn nên mỗi giáp cử 8 người dự thi và có sự phân công rõ ràng: hai người giã gạo, hai người sàng sẩy và chọn gạo nấu cơm, hai người kéo lửa và bắc bếp nhóm lửa, hai người ra sông lấy nước. Hai người đi lấy nước, trên đường đi và về đều bị người chạy theo mang trống chiêng khua vang, cố ý để làm cho mất bình tĩnh đánh đổ nước hoặc vỡ nồi. Giám khảo có: Lý trưởng, phó lý, mỗi giáp có một kỳ mục theo dõi cả lời giáo đầu của giáp trưởng xem có mạch lạc không.
Nấu cơm thi ở Sơn Đông có thưởng mà cũng có phạt. Giáp nào đổ vỡ nồi nấu, cơm vụng phải nộp phạt một chai rượu và một đĩa trầu cau theo lệ làng.

Xã Thựơng Trưng (Vĩnh Tường) thi nấu cơm vào ngày 9 tháng Giêng âm lịch. Mỗi người dự thi có chiếc cần tre buộc sau lưng, đầu cần buông trước mặt một chiếc niêu con. Mỗi nhóm nấu cơm có 4 người, một người giữ niêu đổ sẵn gạo vào niêu, hai người châm đóm đốt dưới niêu, một người lấy bùn xoa vào chôn niêu để giữ độ nóng vì không vần cơm được. Đũa cả đặt vào một cái ống cũng buộc vào cần tre hoặc giắt thắt lưng. Để lấy lửa người ta cọ hai thanh tre già vào nhau, một người kéo lửa, một châm đóm và bùi nhùi. Người dự thi do các giáp cử, không phân biệt nam nữ. Nhóm nấu cơm thi phải đi vòng quanh sân đình, vừa đi vừa nấu. Khi chủ tế nổi trống dứt hồi là chấm dứt cuộc thi.

Cũng ở Vĩnh Tường Hội làng Dưng xã Tứ Trưng mở vào ngày 6 tháng Giêng, trò nấu cơm thi lại có nét khác. Làng Dưng thi nấu cơm cũng mang cần tre, niêu cơm treo đầu cần. Năm nào cũng có hai nhóm thi, mỗi nhóm từ 6 đến 10 người cả nam và nữ, trong có một cụ già, tay cầm cờ hiệu chỉ huy. Nét độc đáo ở đây là hai nhóm thi phải từ đình bơi thuyền ra một cái gò giữa đầm lấy lửa rồi lại về đình. Nhóm phân công: hai trai trèo thuyền, một ôm bó nứa và thanh dang, hai nữ nấu cơm. Tuyền không bơi bằng chèo mà bơi bằng đũa rất khó điều khiển thuyền đi đúng đích. Lấy được lửa về đình rồi, các bước tiếp theo cho đến kết thúc, tương tự như các hội thi nấu cơm khác.

Trở lại vấn đề đã nêu ở phần đầu về mục đích tục nấu cơm thi, ta thấy điều đáng chú ý trong việc thi thổi cơm ở các làng xã Vĩnh Phúc là không phân biệt nam nữ, mà đa số các cuộc thi là nam nấu. Đặt trong hoàn cảnh xã hội cũ, điều này có thể coi là một biểu hiện phản phong. Vì theo quan niệm cũ xa xưa, việc cơm nước hay bếp núc vốn là việc của đàn bà con gái không phải công việc của đàn ông. Người lao động lại quan niệm khác hẳn, đàn ông cũng vào bếp: và còn đoạt giải trong trò nấu cơm thi. Một điều đáng nói nữa của trò nấu cơm thi là tính tập thể. Theo tín ngưỡng dân gian, người ta tin rằng thắng lợi trong cuộc thi nấu cơm sẽ đem lại thắng lợi mùa màng cho cả tập thể phe giáp chứ không cho riêng một ai.

Thi làm bánh, nấu cỗ
Theo truyền thuyết, thi làm bánh nấu cỗ đã có từ thời vua Hùng Vương thứ 6. Đối tượng dự thi là các hoàng tử con Vua. Vua sẽ đích thân chọn bánh, chấm cỗ để từ đó tìm ra người kế vị mình. Cuộc thi ấy, vị hoàng tử thứ 18 là Lang Liêu vốn cùng mẹ sống thanh đạm tại vùng núi Tam Đảo, không có điều kiện làm cỗ với sơn hào hải vị, mà chỉ dâng hai thứ bánh quê là bánh chưng và bánh dầy. Lang Liêu đã được vua cha chấm giải nhất.

Đó là chuyện xưa trong truyền thuyết. Còn tục Thi làm bánh, nấu cỗ trong các hội làng có bắt nguồn từ thời ấy hay không là vấn đề còn phải nghiên cứu thêm. Chỉ biết rằng, trong các hội làng, cùng với thi nấu cơm, có thi làm bánh và nấu cỗ. Các hình thức thi này đều đòi hỏi kỹ thuật cao về xay giã, chế biến lương thực và nấu nướng. Thi làm bánh, nấu cỗ có khác thi nấu cơm. Thi nấu cơm là thi ở đình còn bánh và cỗ thì làm ở giáp, ở nhà đăng cai, rồi đem ra đình thi. Có nơi mâm cỗ bày tám tầng bát đĩa, phải bốn người mới khiêng nổi ra đình. Thi làm bánh được thực hiện trong những điều kiện thông thường, không có những quy định khó khăn như treo niêu cơm vào cần tre, vừa đi vừa nấu hoặc tự đánh dang lấy lửa... Nhiều địa phương trong tỉnh Vĩnh Phúc (Yên Lạc, Lập Thạch, Vĩnh Tường, Tam Dương, Bình Xuyên...) có tục lệ thi bánh, đa số là thi bánh dầy, một số nơi thi bánh nẳng, bánh ót, bánh hòn, bánh gạo rang .v.v… Trong sinh hoạt hàng gày của nhân dân, ta thấy có quá nhiều thứ bánh. Nếu bày một mâm cỗ cho đủ các thứ bánh dân tộc truyền thống, hẳn cũng rất phong phú và gợi cảm. Dù bao nhiêu thứ bánh mặc lòng, bánh chưng và bánh dầy, vẫn là hai thứ bánh hàng đầu (theo cách gọi của các cụ là bánh “Tiên chỉ”) trong làng bánh Việt Nam.Bánh chưng dùng làm lễ vật thần linh, không thi mà chỉ duy nhất có hội thi bánh ở đình Quất Lưu (Bình Xuyên) là thi bánh chưng (cả bánh chưng vuông và bánh chưng tày) cùng với 12 loại bánh khác. Còn bánh dầy, vừa được coi là bánh đầu vị trong tế lễ thần linh do tính chất tinh khiết của nó, vừa được đem ra thi tài bếp núc. Bánh dày bày vào cỗ chay hay cỗ mặn đều được. Trong hội đám việc làng, thì bánh dày là cuộc thi được nhiều nơi tổ chức. Để chuẩn bị cho bánh ngon và dẻo, người ta chú đầu tiên đến khâu kén gạo. Gạo được tãi ra mâm thau, rồi được chọn từng hạt. Khi bắt bánh, người bắt bánh phải xoa rượu và lòng đỏ trứng gà vào lòng bàn tay.

Hội Đình Quất Lưu (Bình Xuyên) tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng hàng năm, lệ có đấu vật và thi 14 thứ bánh nếp. Tương truyền cuộc thi này có từ thời Hai Bà Trưng, do Tam Nương đặt ra. Tam Nương là ba chị em gái ruột: Đạm Nương, Hồng Nương, Thanh Nương cùng là các tướng của Hai Bà. Sau khi đánh giặc Tô Định, ba chị em Đạm Nương được vua Trưng cho về quê xây dựng phòng thành. Nhân dân nô nức dắt trâu, lợn, mang rượu gạo đi đón đoàn quân chiến thắng. Đạm Nương cho lệnh rnở hội mừng công, hội lớn mở 5 ngày với nhiều trò vui: nào đu tiên, ném cầu, nào đánh vật, kéo co, đêm đêm lửa đuốc như sao, ngày ngày trống chiêng dậy đất.
Tam Nương lại cho mở cuộc thi làm bánh để các nữ binh có dịp đua tài thi khéo. Hội bánh mừng công của Tam Nương được các nữ binh nô nức hưởng ứng, làm tất 14 thứ bánh như sau:

- Bánh chưng vuông nhân đỗ xanh thịt lợn.
- Bánh chưng tày gói tròn hình ống.
- Bánh dầy trắng.
- Bánh dầy xoa đỗ xanh.
- Bánh rợm.
- Bánh ống (gần như bánh chưng tày, nhưng bằng bột trộn mật)
- Bánh mật (hình thù như bánh rợm nhung trộn mật)
- Bánh mật hình nhọn như sừng bò.
- Bánh nẳng.
- Bánh phồng.
- Bánh rán mật.
- Bánh trôi.
- Bánh dùng.
- Bánh bột.

Các cụ kể rằng: bánh trôi do Đạm Nương nghĩ ra, bánh dùng do Hồng Nương làm ra, bánh bột do Thanh Nương bày ra. Dân làng cũng theo các nữ binh, làm đủ 14 thứ bánh để thi vui với nhau và ăn trong ngày hội.
Gạo nếp chọn kỹ từng hạt, đổ vào thuyền thúng mà vo; giã gạo chày đôi vào cối đá; bắt bánh dầy, đầu chày xoa mỡ, lót chiếu cói trên ván, mỗi ván hai người giã, hai người bắt bánh. Làm bánh chưng tày các cô thi mịn và dẻo, thi lá giữ được màu xanh, gân sổng lá dong đặt sao cho vạch thẳng mặt đường cắt đôi chiếc bánh. Bánh ống là do một nữ tuỳ tướng của Đạm Nương nghĩ ra. Các nữ binh và các gái làng thi tài đua khéo, vừa làm bánh vừa hát đối đáp với nhau. Em trai của Tam Nương lại cho nam binh đánh trống hát thi với nữ binh, với gái làng, treo giải bằng lụa. Dân làng gọi là hát trống của quân Tam Nương, gọi tắt là “Hát trống quân”. Đạm Nương rất vui bảo các gái làng Quất Lưu bắt bún và kho cá đem đến thi. Đạm Nương chấm và treo giải. Hội bánh từ đó thành tục lệ, mở vào ngày 10 tháng Giêng.

Hiện nay hội đình Quất Lưu vẫn tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng, lệ có đánh vật và thi 14 thứ bánh nếp. Ngày12 tháng một, tiệc kỵ nhật Tam Nương, tục hèm có bún và cá kho.
Tiệc bánh dầy Yên Thư (xã Yên Phương - Yên Lạc) tổ chức vào dịp hội làng từ ngày 3 tới ngày 7 tháng Giêng âm lịch. Cả ba giáp đều nô nức tham gia thi bánh dầy.
Các nhà có ruộng cấy lúa nếp chọn ra loại nếp tốt nhất để mồng ba giã gạo cho thật trắng kịp trưa ngày mồng 4 mang góp cho giáp. Cứ nhà có bao nhiêu con trai thì góp bấy nhiêu đấu gạo. Nhà không có con trai cũng nộp một xuất Sáng ngày mồng 5, gạo được trộn đều để giao cho người đăng cai. Người đăng cai phải chay tịnh, mỗi ngày tắm hai lần bằng nước gừng. Nước làm bánh phải xin ở làng Đinh Xá (làng bên cạnh, kết nghĩa với làng Yên Thư) Từ chiều ngày mồng 4, theo tục lệ cổ truyền Đinh Xá (Kẻ Đanh) đã giữ nước giếng cho trong, cho sạch, không để ai đến gánh. Giếng được che bằng một chiếc lọng to. Sáng mồng 5, đoàn đại biểu làng Yên Thư gồm mỗi giáp 8 đôi chĩnh lên đường sang Đinh Xá lấy nước. Từ sáng sớm. khi gà gáy, dân làng đã thắp hương làm lễ đưa đoàn người khiêng chĩnh lên đường.
Sang tới làng bạn, Yên Thư thả mấy quan tiền xuống giếng theo lệ rồi kín nước (múc nước, kéo nước từ giếng lên). Từ động tác múc nước tới quảy nước về làng đều phải làm thật nhanh, thật khéo. Đoàn người đưa chĩnh nước trở về lại được bà con ba giáp ra đón tại đầu làng với cờ xí lộng lẫy, chiêng trống tưng bừng.

Quang cảnh khu tập trung để giã gạo mới thật là nhộn nhịp. Trên một sân rộng có bắc rạp tám mái. Có bàn thờ trang hoàng lộng lẫy vừa bầy ba hàng bàn ghế. Cả giáp tổ chức ăn uống đông vui để giã bánh. Gạo giã từ chiều mồng 5 tới chiều mồng 6. Đêm mồng 6 rạng mồng 7 thì xôi gạo bằng củi ổi. Sáng mồng 7 các giáp giã bánh trong tiếng chiêng trống tưng bừng. Trước khi giã người ta chôn cối đá sâu xuống để cối không bị xê dịch. Chày làm bằng tre non cạo hết tinh, dúng nước xoa trứng. Người bắt bánh phải xoa lòng đỏ trứng vào tay. Mỗi chiếc bánh nặn nhỏ bằng phẩm oản được đặt lên một lá mít cắt tròn. Ba hay bốn trăm chiếc bánh đặt lên giường thờ trông rất đều nhau và đẹp mắt. Bánh đạt tiêu chuẩn là bánh tròn, bóng, không nhăn gợn. Mỗi giáp chấm lấy một quả nhất (Quả bánh là cả cái bánh, đồng bánh là một miếng bánh, cắt ra từ cái bánh).

Bộ phận chấm thi gồm 4 người, trong đó có chủ tế. Qủa bánh nhất được đặt vào một chiếc đĩa úp bát lên trên rồi được đặt vào chính giữa mâm bánh. Mọi người hân hoan đưa kiệu khiêng mâm bánh ra đình. Khi rước kiệu bánh, các chân kiệu đi nhích từng bước trong khung cảnh cờ dong trống mở. Ba giáp thành ba đám rước, tới một điểm gọi là Bạch Mã, cả ba giáp dóng hàng ngang cùng đi. Khi lý trưởng nổi trống ra lệnh Tây Xướng, Đông Xướng, cả ba kiệu chen nhau chạy vào đình, bỏ lại phía sau mọi cờ quạt, nhang đèn. Vì thế, các giáp phải cử người khoẻ và nhanh nhẹn để giữ kiệu cho khỏi đổ (đổ là bị làng phạt). Sau khi đưa bánh vào “Trình Ngài” ở hậu cung, người ta mới chấm lấy mâm bánh đạt giải nhất.
Vùng Lập Thạch có câu ca:

Bánh nẳng chợ Tràng
Gạo rang Tiên Lữ.
Bánh Nẳng là đặc sản của các làng Đạo Nội, Nhân Mục, Đôn Mục thuộc tổng Nhân Mục, Bánh gạo rang cũng là một đặc sản của làng Tiên Lữ, tổng Hạ ích (cùng ở huyện Lập Thạch). Hai loại bánh này làng không tổ chức thi vào ngày hội làng mà nhận xét đánh giá trong cả năm xem nhà nào đạo đức, tư cách tốt, vợ chồng con cháu đề huề, có nhiều bạn khách đến đặt hàng, sẽ giao cho làm bánh để tế thần vào dịp đầu xuân. Cuộc thi này xem ra còn khó khăn hơn cuộc thi làm ngay tại lễ hội, vì phải giữ gìn, phấn đấu suốt cả năm.

Bánh nẳng đa số các nơi gọi là bánh gio. Truyền thuyết địa phương kể rằng có một vị tướng thời Hùng Vương đi đánh Thục Phán, dừng nghỉ ở làng. Dân làng bảo nhau làm bánh gạo nếp để khao quân. Gạo đang vo, đang ngâm thì quân Thục kéo tới. Vị tướng lên ngựa, kéo quân đi đánh. Dân làng cũng vội vác gậy gộc cuốc thuổng chạy theo trợ chiến. Trong lúc vội vàng, gio bếp bay cả vào các giá gạo, nồi gạo. Sáng hôm sau giặc tan, dân làng mang gạo ra sông vo lại, đãi lại rồi về làm bánh. Kỳ lạ thay bóc bánh ra, các hạt gạo trong suốt dính vào nhau, có màu vàng như sáp ong, hổ phách, ăn với mật thấy thơm mát hơn loại bánh cũ. Mọi người cho rằng do có tác động của nước gio (địa phương gọi là nước nẳng) nên bánh với ngon và có màu đẹp như thế. Từ đấy dân làng chuyển sang làm bánh gio, tiếng địa phương gọi là bánh nẳng. Bánh nẳng làm bằng gạo nếp cái hoa vàng. Gạo đãi sạch ngâm trong nước nẳng một đêm. Để có nước nẳng người ta lấy cành xoan tươi, cành bưởi tươi (cả lá), trã vừng, lá si, chằm gửi cây dọc, quả thầu dầu đem đốt lấy gio. Hoà gio vào chậu nước lọc lấy nước trong, bỏ bã. Múc một bát nước để thử. Nhá rập rạp miếng trầu rồi mới thả vào bát nước nẳng. Nếu nước màu hồng hồng tức là nước nẳng nhạt, phải hoà thêm gio vào. Nếu nước màu đỏ thậm tức là nước nẳng mặn, phải đổ thêm nước vào cho nhạt bớt, đến khi nước nẳng đỏ tươi màu cờ là được. Dùng nước nẳng để ngâm gạo (nước nẳng mặn bánh cứng, ăn chát, nồng không thể nuốt được, nước nẳng nhạt, bánh luộc lên rã ra, không chín). Gạo ngâm trong nước nẳng qua đêm, vớt ra để khô rồi gói bằng lá chít đã luộc và rửa sạch. Luộc bánh khoảng dăm sáu tiếng đồng hồ, vớt ra bóc thấy các hạt gạo nhừ trong suốt, dính vào nhau vàng như sáp ong hay hổ phách là bánh ngon. Bánh nẳng chấm với mật giọt ăn thì tuyệt.
Cụ Đăng ở Đôn Nhân cho biết gia đình nào được làng giao cho làm bánh nẳng tế thần đầu xuân sẽ có phúc lộc quanh năm. Vì thế, các gia đình được trọn làm cỗ mời họ, mời giáp cùng chia vui.

Bánh gạo rang Tiên Lữ lại do ba anh em họ Trần (Trần Cả, Trần Hai, Trần Ba - làng Tiên Lữ thờ cả 3 vị, có 1 bản thần tích) dạy dân làng cách làm - Ba vị tướng họ Trần một lần dừng quân ở làng Tiên Lữ đúng lúc dân làng đang đói kém. Ba vị sai quân lấy lương khô ra chia cho dân làng. Lương khô là gạo rang trộn mật. Dân làng ăn thấy ngon và khoẻ hẳn lên, tự nguyện theo ba ngài đi đánh giặc ngoại xâm rất đông. Ba vị còn dạy cho dân làng cách làm bánh gạo rang để tích trữ lương thực, cơ động chiến đấu. Khi ba ngài mất, dân làng lập đền thờ và bảo nhau làm bánh gạo rang để cúng trong kỳ tiệc.

Bánh gạo rang Tiên Lữ cũng làm bằng gạo nếp cái hoa vàng. Gạo ngâm trong nước quả vàng dành cùng ruột cỏ bấc đèn, cây dáy và gio cây vừng đốt ra. Ngâm trong 3 ngày vớt gạo để khô cho vào chõ xôi lên. Xôi chín đem trộn đều với mỡ lợn, rải ra nia rồi đùng vồ nhãn xoa mỡ lợn, đập đi đập lại trong vài giờ cho hạt xôi bẹp ra. Sau đó lại phơi khô. Đem vào trong râm để nguội mát tay, lại trộn mỡ lợn đổ vào chảo rang cho nổ bung ra. Đun sôi mật, nhúng đũa kéo lên thấy mật nhỏ giọt tròn trong bát nước lạnh, mới đổ gạo rang vào đun, quấy đều, rồi đổ ra giàn mỏng trong mâm, thớt hoặc ván nhãn. Dùng đoạn cây tròn nhẵn lăn đi lăn lại trên mặt cho bánh nén chặt. Dùng thước và dao sắc cắt thành từng cái bánh to nhỏ tuỳ ý muốn, rồi dùng lá chuối khô gói từng chục một (sau này gói bằng giấy bóng kính hoặc đóng vào túi ni lông).
Ngày xưa, vào các kỳ tiệc làng, người dân Tiên Lữ làm bánh gạo rang để cúng thần, tưởng nhớ ba vị tướng họ Trần và là thứ quà biếu đặc sản địa phương. Trong dịp lễ hội, cụ chủ tế thường chọn mâm bánh đẹp và ngon nhất đặt vào vị trí chính giữa trên bàn thờ thần. Mâm bánh nhà ai được chọn, nhà ấy lấy làm tự hào, mãn nguyện và tin rằng toàn gia sẽ được may mắn, làm ăn thịnh vượng. Đây là cuộc đua tài thi khéo không rầm rộ, nhưng rất có ý nghĩa, vì nó hoàn toàn tự tâm, tự nguyện.

Thi cỗ
Cùng với thi bánh là thi cỗ. Thi cỗ không phổ biến ở các hội làng, chỉ có ở một vài địa phương, nhưng cũng thể hiện được nhiều khía cạnh của trò đua tài thi khéo. Có cỗ mặn, có cỗ hoa quả. Cỗ mặn thì nào là cá gáy hấp nguyên con, gà giả chim phượng, chim ngói xếp thành hình Lã Vọng ngồi câu v.v... từng món, từng món chế biến, nấu nướng đều đạt tới trình độ nghệ thuật cao. Cỗ hoa quả lại càng phong phú đẹp mắt. Gọi là cỗ hoa quả, nhưng không phải là hoa quả trên cây lấy xuống bầy cỗ mà từ qủa phật thủ, quả bưởi, cam, quất, chuối đến hoa cúc, hoa hồng... tất cả đều được chế biến khéo léo từ bột nếp.

Cỗ hoa quả tiêu biểu hơn cả là cỗ hoa quả ở làng Thượng Trưng, tổng Thượng Trưng, nay thuộc xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường. ở đây thi cỗ vào tháng Giêng, lấy quả đu đủ nhuộm vàng nhuộm đỏ làm hoa và làm phật thủ. Làm quả hồng quả quất thi lấy trứng luộc chín bóc vỏ rồi nhuộm màu, điểm thêm tai hồng hoặc lá quất bằng giấy cắt. Con trai, con gái từ mười ba tuổi trở lên, chưa vợ chưa chồng đều được dự thi. Tục lệ này khiến cho con trai, con gái Thượng Trưng đều khéo tay cỗ bàn từ nhỏ.

Trò diễn đâm trâu, chém gà, mổ lợn
Những trò trên rõ ràng cần nhiều sức lực, nhưng lại xếp vào mục đua tài thi khéo là có ý nhấn mạnh đến nghệ thuật biểu diễn của những trò này trong lễ hội. Mỗi khi làng mở hội là có tế lễ và làm cỗ. Do đó có thịt gà, mổ lợn. Nhất là mổ lợn, vì con lợn là đầu vị của tất cả mọi cỗ bàn tiệc lệ ở nông thôn. Làng nào có đám lớn mới có mổ trâu. Sát sinh là công việc bình thường, nhưng trong lễ hội, sát sinh lại được gắn với một ý nghĩa thiêng liêng, nên nhiều nơi sát sinh đã được tổ chức thành một nghi lễ có tính biểu diễn, tính nghệ thuật với một nội dung cầu chúc thần linh hoặc tưởng niệm công tích của vị thần làng.
ở Vĩnh Phúc, tục “Đâm trâu, chém gà, mổ lợn” có ở các làng Vị Thanh tổng Quất Lưu, huyện Bình Xuyên (nay thuộc thị xã Vĩnh Yên) xã Yên Bình, xã Thượng Trưng (huyện Vĩnh Tường), làng Dịch Đồng, làng Lạc ý, tổng Hồn Ngạc, huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Đồng Cương huyện Yên Lạc), làng Tích Sơn, tổng Định Trung, huyện Tam Dương (nay Tích Sơn thuộc thành phố Vĩnh Yên).

Chém gà
Trò này có ở Hội làng Tích Sơn.
Trai làng Tích Sơn đến tuổi chịu việc làng, nghĩa là 18 tuổi mỗi chàng phải nuôi một con gà cúng thần. Ngay từ đầu năm trước, họ đã mua gà, đem thiến để nuôi cho tới ngày hội vào đầu năm sau. Người nuôi phải săn sóc vỗ về nuôi sao cho gà béo lại chắc và nặng cân. Trong lúc nuôi gà, cần tránh cho gà sự ô uế, có thức ăn riêng, không chung đụng với gà vịt khác.
Ngày mồng 3 tết, những chàng trai có bổn phận nuôi gà, mang gà ra đình. Làng này xưa có hai giáp: Đông và Đoài. Trai hai giáp với những con gà của mình, ngồi thành hai hàng hai bên trước bàn thờ, mỗi chàng ôm một con gà, con nào con ấy trông thật đẹp mã, lông mượt và đều có vẻ nặng cân.

Các cụ trong làng cùng ban hội đồng soát gà ngắm các con gà một lượt, rồi ông tiên chỉ hoặc cụ chủ tế thắp hương khấn lễ trước bàn thờ. Lễ xong, tất cả các chàng trai đều ôm gà của mình nhảy múa, vái lễ trước bàn thờ. Sau đó từng chàng trai, dùng một con dao thật sắc, chém một nhát đứt đầu con gà, đầu gà văng xuống đất trước sân đình, tiết gà được hứng riêng mỗi con vào một chiếc bát. Đoạn họ nhặt đầu gà, ôm gà ra ao mé sau đình làm lông cúng thần. Chàng trai nào lúng túng, chặt đầu gà không đứt là bị phạt.

Thịt những con gà này được dâng cúng thần, chỉ các bô lão và các quan viên hai giáp được hưởng. Có cụ ngày xưa đã từng ăn thịt gà lễ, bây giờ vẫn nhắc rằng thơm ngon lắm. Những con gà to béo, thịt chắc được các cụ ban khen. Chàng trai nào được khen đều lấy làm hãnh diện với dân làng và các cô gái làng. Do đó ai đến tuổi nuôi gà đều phải học cách nuôi gà cho thật lớn, thật béo.

Dân làng Tích Sơn còn kể lại rằng, có những chàng trai không thành tâm trong việc nuôi gà, gà nuôi quanh năm không sao, gần đến tết gà lăn quay ra chết. Đấy là Đức Ngài phạt kẻ bất thành và bất kính. Trong trường hợp này, các chàng trai chỉ còn cách đi các chợ kén mua một con gà sống thiến khác thay thế để có gà làm lễ chém trong ngày hội làng. Gạt bỏ những ý kiến này khác, ta thấy trò chém gà tế thần góp phần khuyến khích chăn nuôi, nhất là việc nuôi gà ở làng quê.

Mổ lợn
Mổ lợn vốn là công việc rất bình thường và đơn giản. Thế nhưng ở xã Khai Quang (thị xã Vĩnh Yên) và ở một số địa phương khác trong tỉnh như Tích Sơn (Vĩnh Yên), Thượng Trưng (Vĩnh Tường), Dịch Đồng (Yên Lạc)... công việc mổ lợn đã được trình diễn như một lễ thức có tính nghệ thuật. Tính biểu diễn với nội dung cầu chúc thần linh hoặc tưởng niệm công tích của vị thần làng, mang nét hùng tráng và tinh thần thượng võ cao. Để minh hoạ, xin giới thiệu “tục mổ lợn tế trận” ở xã Khai Quang.

Xã Khai Quang mở hội tế trận vào ngày 12 tháng Chạp âm lịch. Các giáp cử 6 trai đinh cởi trần đóng khố đứng trước thượng cung từ chập tối cho tới gà gáy sáng. Lúc này, người ta rước 2 con lợn thờ tới đình và đặt ở sân, bên mỗi con lợn lại có cái chõng bày dao phay, dao bầu. Trai đinh làm lễ rồi ra sân đình đứng thành hàng hai bên hai con lợn. Dứt ba hồi trống, chủ tế cầm roi tre còn nguyên lá ở ngọn roi phất vào đầu lợn. Hai trai đinh đứng đầu hàng lia dao đứt ngay hai thủ lợn rồi cầm thủ lợn vừa đi vừa múa dâng lên bàn thờ. Tiếp sau đó hai người khác cắt lấy khoanh cổ (địa phương gọi là tràng hoa), rồi cũng múa dâng lên bàn thờ như thế. Tới động tác thứ ba: mỗi con lợn được cắt lấy 8 miếng vuông ở hai bên sờn, mỗi miếng bằng bàn tay. Tám miếng này sau khi cạo sạch lông được xiên nướng để múa dâng lên bàn thờ. Tới đây cuộc tế mới chính thức bắt đầu. Tế xong, mọi người đem lợn về giáp làm thịt, sắp cỗ. Khi khiêng lợn về, tiếng reo hò nổi lên vang dậy hoà vào tiếng trống dồn dập như trống trận.

Nhìn chung, đây không phải là công việc mổ lợn bình thường mà là một lễ thức tế cờ xuất binh thời cổ. Có thể nói, Tục mổ lợn tế trận ở xã Khai Quang, thị xã Vĩnh Yên là một cổ tục đầy tính chiến đấu còn lưu lại đến ngày nay.
Trò Đâm trâu, giết trâu cũng là những nghi lễ tương tự. Đến ngày tế thần, dân làng mang cờ quạt, nổi chiêng trống rước “trâu thờ” ra đình, con trâu được trang trí những giải lụa xanh đỏ, được che lọng đem buộc ở sân đình. Có nơi giết trâu ban ngày, có nơi giết trâu ban đêm, tuỳ tục hèm của làng. Đại thể, khi chủ tế khấn thần linh xong, ra lệnh “sát ngưu” tiếng hò reo của mỗi bên vang dậy hoà tiếng trống dồn dập như trống trận, các trai tráng tay cầm gậy tre, xô đẩy nhau để vào đánh trâu, tạo ra một cảnh tượng náo nhiệt, có nơi còn có tục lệ “cướp búa đánh đầu trâu”.

Trò đánh trâu ở các lễ hội, có khác nhau đôi chút ở nơi này, nơi kia nhưng đều mang tính chất là một nghi thức có nội dung tín ngưỡng. Hiện nay các địa phương đều đã khôi phục hội làng xưa, làm phong phú đời sống văn hoá truyền thống, nhưng trò đâm trâu không mấy nơi diễn lại. Vì thế, chúng tôi không giới thiệu kỹ ở đây.

Hai mặt cơ bản nhất của đời sống Việt Nam là sản xuất và chiến đấu với mối quan hệ hữu cơ của nó đã được thể hiện rất rõ trong các trò đua tài thi khéo. Những trò đua tài khi khéo cho thấy tinh thần cần cù lao động, óc sáng tạo của nhân dân với nỗ lực tạo ra một cuộc sống có văn hoá. Mỗi làng chạ đều có những hình thức đua tài về chế biến lương thực,thực phẩm và sau đó là những hội thi tài có tác dụng thúc đẩy sản xuất tiến lên . Mặt khác những trò thổi cơm thi, làm bánh, làm cỗ rồi đâm trâu, mổ lợn... phản ánh một xã hội nông nghiệp trên đà phát triển, có yêu cầu nâng cao trình độ sản xuất, trình độ chế biến lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống. Nói một cách khác, xã hội của cộng đồng người Vĩnh Phúc thuở ấy đã có một yêu cầu văn hoá cao.

TRÒ DIỄN CẦU MÙA CẦU ĐINH

(Có mang tính nghệ thuật sân khấu)

Trong các hội làng cổ truyền, ngoài các hình thức vui chơi giải trí, các trò diễn vui khoẻ, các trò đua tài thi khéo, ta còn thấy một loại trò nữa xoay quanh chủ đề “Cầu mùa cầu đinh” mà các diễn xướng mang nhiều yếu tố nghệ thuật sân khấu.
Những yếu tố sân khấu ấy là: các vai trò và lĩnh trò, phương thức trình diễn, cách hoá trang, phục trang và đạo cụ. Các người ra trò đều ít nhiều mang tính chất diễn viên. Tuỳ theo tính cách, nghề nghiệp của vai trò mà người diễn trò có cách phục trang, hoá trang phù hợp, có cách nói và hát, có đối thoại hay không. Hơn nữa những người ra trò đều có ý thức “sắm trò”, tức là có ý thức được mình đang đóng một vai gì, trong màn trò gì.

Ở đây chỉ tập trung giới thiệu về các trò múa, trò cầu mùa (còn gọi là trình nghề), trò cầu đinh (mong có con cái để duy trì nòi giống, phát triển cộng đồng), cuối cùng sẽ nói sơ qua về các trò diễn gắn liền với thần tích và truyền thuyết dân gian.

Múa và đời sống nguyên thuỷ
Khi nhận xét về đời sống của các thổ dân Indien ở Châu Mỹ, ăng ghen có viết: “Những bộ lạc khác nhau có những ngày lễ thường kỳ của họ với một số hình thức lễ bái nhất định, cụ thể là nhảy múa và các trò chơi, đặc biệt nhảy múa là bộ phận cấu thành căn bản tất cả các nghi lễ tôn giáo” (*). 

(*) Nguồn gốc của gia đình chủa chế độ tư hữu về Nhà nước - ăng ghen-NXB Sự thật-1972
Ở nước ta, múa cũng ra đời rất sớm, ngay từ khi con người
có biểu hiện tình cảm tự nhiên của mình, bằng những động tác chân tay, thân hình, con người diễn tả nỗi vui mừng, sự sợ hãi hay tức giận, những tình cảm trước thiên nhiên và trong các mối quan hệ xã hội. Múa ngay từ buổi đầu thường được đi liền với những tiếng hô, tiếng hú cùng nhịp điệu các nhạc cụ thô sơ trong dạng hỗn hợp nguyên thuỷ, và được diễn ra trong những nghi lễ cầu mùa, cầu đinh, săn bắt, chiến trận.

Trên các trống đồng đã đào được ở nhiều vùng đất nước ta thấy có chạm khắc những cảnh sinh hoạt thời Hùng Vương, trong đó có những hình tượng về các nhạc cụ của nước Văn Lang cổ, tục hát đối đáp nam nữ khi giã gạo chày đôi hoặc vừa hát đối đáp vừa đánh trống đồng, rồi những trò múa hoá trang đeo lông chim, múa chiến đấu, múa săn bắt hái lượm. Những hình chạm khắc ấy cho thấy một nền ca múa đa dạng cả về hình thức lẫn loại hình đã phát triển mạnh mẽ trong sự phát triển chung của cư dân Vĩnh Phúc trên cơ sở nền văn hoá Văn Lang - âu Lạc.

Gần đây, đầu năm 2000, tại xã Đạo Trù huyện Lập Thạch, trong lúc đào đất xây tường rào, anh Trần Đức Lâm, người Sán Dìu đã phát hiện một chiếc trống đồng còn nguyên vẹn, tạm gọi là trống đồng Đạo Trù (Đây là chiếc trống Đông Sơn thứ hai được phát hiện ở Vĩnh Phúc). Vành hoa văn thứ 6 trên mặt trống bị mờ, nhưng vẫn có thể hình dung đây là hoa văn hình người múa hoá trang biến thể cách điệu cao, thường gọi là hoa văn cờ bay.
Chúng ta cần biết thêm rằng người Việt không múa trong những sinh hoạt bình thường hàng ngày mà chỉ tổ chức múa trong lễ hội đình đám. Như vậy múa đã mang hai chức năng: thẩm mỹ và tín ngưỡng. Ta sẽ từng bước hiểu thêm về múa dân gian của người Việt cổ qua các nghi lễ cầu mùa, cầu đinh cùng một số trò diễn gắn liền với thần tích và truyền thuyết dân gian.

Trò diễn cầu mùa, cầu đinh
Trò diễn cầu mùa, còn gọi là trò trình nghề hay trò bách nghệ. Đây là loại hình nghệ thuật tín ngường, trò diễn nghi lễ phong tục, chỉ tổ chức vào dịp hội xuân, hầu hết là vào tháng giêng, nhằm mừng xuân cầu phúc. Cầu mùa còn gọi là trình nghề với ý nghĩa trình bày, giới thiệu về các nghề của làng và trước hết là trình với thần linh thành hoàng để cầu mong mùa vụ tốt tươi, thịnh vượng. Trò trình nghề một số nơi gọi là trò “Tứ dân”. Vì các vai trò thường có 4 thành phần: sĩ, nông, công, thương. Có câu ca rằng:

Phường ta vui cảnh tứ dân
Năm năm mở hội đầu xuân làm trò

Các nhân vật của trò cầu mùa trình nghề chủ yếu là những nhân vật của nông thôn, trong đó nổi bật và không thể thiếu là các vai thợ cấy, thợ mạ, thợ gặt. Sau đó đến các vai trò khác như: thầy đồ, học trò, thợ mộc, ông sư, thầy cúng, người buôn bán, người chăn tằm, tưới nước... Các vai trò này tuỳ theo địa phương mà đặt ra, không nhất thiết trò nào cũng có đủ.

Có người giải thích rằng: sở dĩ gọi là “trò” vì chưa có tích, chưa có cốt truyện. Nhưng đòi hỏi phải có những yếu tố sân khấu (như hoá trang, phục trang, đạo cụ) Thực ra không phải vậy. Trò giải trí trò diễn vui khoẻ, có hoá trang, phục trang đạo cụ gì đâu, vẫn gọi là “Trò”. Về sau này, khi có những đoàn diễn chuyên nghiệp, có vở diễn (tức là có cả tích truyện và cốt truyện) nhân dân ta vẫn gọi là “Trò”, “nhà trò con hát”, “Trò Lưu Bình- Dương Lễ”. Bởi thế, theo chúng tôi, “trò” ở đây là cách nói dân gian, cần được hiểu theo nghĩa gốc là: Cuộc diễn ra để công chúng giải trí.

Trò trâu rơm bò rạ ở Đại Đồng
Xã Đại Đồng (huyện Vĩnh Tường) có hai làng Bích Đại và Đồng Vệ. Tuy là hai làng nhưng lại chung đình, chung đám hội hè. Cả hai làng cùng thờ Đinh Thiên Tích, một vị tướng có công đánh đuổi giặc ân thời Hùng Vương thứ 6.
ở đây hàng năm vào ngày 4 và ngày 5 Tết Nguyên Đán, mỗi nhà có trâu, bò mà không có tang đều phải làm một con trâu, bò bằng rơm, rạ đem ra sân đình làm lễ (Rơm, rạ sạch chuẩn bị từ ngày mùa năm trước và bện trâu bò rơm vào cuối năm). Trâu rơm bò rạ này được buộc vào một cái cày đã tháo lưỡi, một người đàn ông đội trâu rơm bò rạ, một ngời đàn ông khác cầm cầy. Trên sân đình thường có vài chục trâu bò như thế, có một số cô gái tuổi 17, 18 cắp thúng trấu giả cách vãi giống. Một số trẻ em trong vai mục đồng, bê, nghé. Một vài người trong vai câu ếch, úp cá. Mọi người trình diễn trên sân đình theo nhịp trống chiêng sôi động. Trò trình này, nam đóng giả nữ, nữ đóng giả nam. “Trò trình” không giới hạn về thời gian, trong không gian là sân đình, ao đình giữa ngày Tết.
Mọi người có thể tham gia trong suốt thời gian hội làng.

Các cụ ở Đại Đồng còn kể thêm, ngoài trò “Trâu rơm bò rạ” để cầu mong mùa màng bội thu, còn có trò rước kén tằm (bằng gỗ xoan) và có các vai ban ngài, (ngài là con bướm do con tằm hoá ra), mua dâu vì xã có nghề tầm tang. Sau trò trình nghề còn có dệt cửi thi trên mặt ao. Tham gia trò diễn trong lễ hội còn có đủ các vai “Tứ dân chi nghiệp” như các nơi khác.

Trò trình nghề ở Phú Hậu
Làng Phú Hậu trước kia thuộc tổng Đông Mật huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Sơn Đông huyện Lập Thạch), có nghề trồng dâu nuôi tằm, phát triển có tiếng trong vùng. Phú Hậu trên bến dưới thuyền, các lái về mua kén, trao đổi tơ tằm rất đông. Làng thờ thần Quý Minh là em thần Tản Viên. Lễ hội hàng năm vào các ngày 25 - 4; 25 - 11 và 8 - 1 âm lịch. Hội chính vào dịp đầu tháng Giêng gọi là lễ cầu khánh hạ. Độc đáo hơn với nơi khác là ở đây còn có các vai hoà thượng, thầy cả, thầy hai. Giáp Đông là giáp Cả sắm vai Chúa nhà. Giáp này phải làm 3 nong kén bằng gỗ xoan, và chọn người đóng vai hoà thượng, thầy cả, thầy hai. Giáp Nam đóng các vai thợ cày, thợ cấy, con trâu, các vãi bà, 1 Thiên Lôi và 1 chùa mã, có chuông giấy. Một vai ông già do một bà vãi hoá trang. Giáp Đoài cử người đóng vai Lã Vọng câu dê, mồi câu là bong bóng lợn. Con dê cũng do người đóng. Giáp Đoài còn đóng vai thổ công bưng mâm bánh rán, 5 thợ mộc, 5 thợ nề, 2 thợ may. Giáp Bắc cử 5 vai đi làm thuê đeo dao và 5 người tiều phu cũng thắt dao ngang lưng. Các vai diễn tự phục trang, hoá trang. Các bà vãi do nam đóng mặc váy, yếm thắt lưng ngoài áo, cổ đeo chuỗi vỏ ốc làm tràng hạt. Vai thổ công dùng mũ áo bằng giấy. Lọng và nong nia dán giấy xanh đỏ.
Các giáp Nam, Bắc, Đoài đổ về giáp Đông đón Hoà thượng rồi cùng nhau họp thành đám rước đổ về đình. Ba nong kén được rước trên kiệu. Các vai diễn đi sau kiệu diễn trò trình nghề.

Tới sân đình, cuộc diễn trò mở đầu với lời khấn chúc của chủ tế.
Vì mỗi giáp, theo tục lệ đã có một vai trò nhất định, không thay đổi, nên các giáp cũng làm thành những nhóm trò khác nhau và lần lợt trình bày theo thứ tự: Đông - Nam - Đoài - Bắc. Như vậy, trò trình nghề cầu mùa ở Phú Hậu đã hình thành những lớp trò. Mỗi nhóm khi vào diễn đều có người đọc lời giáo và chúc giống nhau, sau đó mới đến lời lẽ riêng cho từng nghề nghiệp.
Lời giáo đầu chung như sau: “Dạ, bước sang năm mới, hôm nay là ngày 8 tháng Giêng, có lễ dâng lên Đức Thánh. Xin Đức Thánh phù hộ cho làng tốt tằm tốt tơ, được mùa giàu có, thịnh trai, thịnh gái, nam nữ trẻ già. Xin Đức Thánh phù hộ cho làng con dân an vật thịnh”.
Trò trình nghề ở Phú Hậu không có các vai sĩ và thương.

Những người tham gia diễn trò đều làm động tác khôi hài. Chẳng hạn thổ công phồng má trợn mắt nuốt bánh rán, các vai khác đến nhét bánh đầy miệng thổ công. Con dê (người đóng) cố nhẩy lên đớp lấy cái bong bóng lợn ở đầu cần câu của Lã Vọng. Các “bà vãi” (do nam đóng) uốn éo múa may, xóc chuỗi tràng hạt bằng vỏ ốc v.v... Những người được giao các vai không hát, không nói chỉ làm động tác trò diễn như những lớp kịch câm, tạo nên một chuỗi hoạt cảnh không lời, gây không khí vui nhộn. Do có yếu tố vui nhộn này mà một số nơi gọi trò trình nghề - cầu mùa là trò “bách nghệ khôi hài”.

Trò trình nghề ở Đông Mật
Đông Mật trước kia là tên tổng, nay là một thôn thuộc xã Sơn Đông. Cùng xã với Phú Hậu nhưng trò trình nghề ở Đông Mật khác với Phú Hậu và nhiều nơi khác. Đông Mật cũng có 4 giáp: Đông, Nam, Đoài, Bắc, thờ Thành Hoàng là một lạc tướng nhà Hùng gọi là ông Bách và một lạc điền trông coi việc trồng trọt cấy cày gọi là ông Điền. Làng mở hội từ ngày 4 đến ngày mồng 6 Tết có trò trình nghề của giáp Nam. ở đây chỉ có một vai nông, chứ không có đủ “tứ dân” như các nơi, nghĩa là không có sĩ, công, thương, và cũng không có các vai phụ như: sư, vãi, tiều phu... Trò trình nghề ở Đông Mật còn được gọi là trò “Thiên Lôi”, gồm có: thợ cày, vài cô thợ cấy do nam đóng, đôi ba con trâu sừng bằng rơm bện, thân trâu là chiếu bó bôi trát đen sì. Vai Thiên Lôi vẽ từng mảng đen đỏ ở mặt, mang chiếc ống bương có đục nhiều lỗ thủng. Đoàn trò đi diễn từ miếu tới một bãi rộng trước đình. Trò có hát ví, nói khôi hài. “Trâu” húc nhau và cố tình xông tới các cô gái đang túm tụm trên bờ, cười khúc khích. Thiên Lôi múa may, hò hét, vung ống bương tưới nước xuống ruộng.

Múa mo ở thôn Mậu Lâm xã Khai Quang (Vĩnh Yên)
Khai Quang trước kia là một làng thuộc tổng Định Trung, huyện Tam Dương, nay là một xã thuộc thành phố Vĩnh Yên. Trò múa mo cũng là một hình thức diễn xướng trình nghề, tổ chức vào ngày 9 tháng Giêng hàng năm. Chuẩn bị lễ hội, các giáp trong làng cắt cử từ 40 đến 50 người có đức hạnh, sạch bụi không vướng việc tang, gia đình song toàn sung túc. Số người này được chia làm 4 nhóm tượng trưng cho “Tứ dân” (sĩ, nông, công, thương) với những trang phục và mặt nạ bằng mo cau có vẽ màu phân biệt từng thành phần (Bởi dùng mặt nạ bằng mo cau nên gọi là múa mo). Sĩ mặc quần áo nho sinh, khăn xếp, tay cầm ống quyển. Nông vác cày bừa, cuốc, gánh mạ, cầm liềm hái, lượm lúa, đánh trâu bò (trâu bò do người đóng). Công mang cưa, đục, dìu, vác gỗ tượng trưng bằng khúc chuối. Thương quẩy đôi bồ hàng, cầm cân, mặc quần áo gụ hoặc đen. Đoàn “tứ dân” vừa đi vừa hát nhịp nhàng theo tiếng trống chiêng quanh làng sau đó về sân chùa, vòng quanh sân chùa ba vòng. Trò diễn kéo dài ba tuần nhang (khoảng 30 đến 40 phút). Trình diễn xong mọi người vui hát hò, nói chuyện mùa màng, gia đình, làng xóm... Mục đích của lễ hội “múa mo Khai Quang” là tổng kết năm cũ, cầu xin năm mới tốt lành, thịnh vượng.
Các cụ ở thôn Mậu Lâm kể về việc làm mặt nạ mo cau rất công phu.

Phải chọn mo cau rộng bản, bên mặt nhẵn bóng phình ra ngoài, ủ trấu hun vàng ươm mo Cau, khoét lỗ vừa mắt. Sau đó, chỉ dùng các màu đen bằng than hột xoan, bồ hóng; màu đỏ bằng hoa hiên hay thần sa; màu trắng bằng vôi. Các màu trên được luyện với sáp ong, sau đó vẽ trên mặt nạ mo cau những nét đặc trưng theo ngành nghề với những sắc thái biểu cảm riêng: Sĩ mặt trắng trẻo, thanh tú. Nông dân sạm nắng v.v... Giáp nào làm được mặt nạ đẹp, trông hài hước sẽ được thưởng một tuần rượu trong nhịp chiêng trống. Năm 1992 di tích lịch sử văn hoá chùa Phú xã Khai Quang được công nhận, xã đã nhiều lần tổ chức lễ hội Múa Mo. Lễ hội trang trọng nhất được tổ chức vào ngày hội Văn hoá Thể thao tỉnh Vĩnh Phúc đầu năm 1997. Tuy nhiên, mặt nạ dùng trong lễ hội là mặt nạ làm bằng giấy bồi. Trung tâm Văn hóa Thông tin thành phố Vĩnh Yên, Sở Văn hoá Thông tin nên có kế hoạch hướng dẫn, tạo điều kiện để dân làng Mậu Lâm khôi phục lại mặt nạ mo cau truyền thống.

Trò diễn trình nghề ở thôn Đan Trì xã Hoàng Đan, Tam Dương đã được nâng cao thành trò diễn sân khấu có tên là “múa chạy cày”. Múa chạy cày bao giờ cũng tổ chức vào buổi tối dưới ánh đuốc. Có 8 cặp nam 16 người đóng khố ba, cầm bắp cày, múa biểu diễn cày ba vòng quanh sân đình rồi cùng trụ lại ở giữa sân, múa tiếp ba vòng nữa. Ba lần chín vòng đều múa diễn quanh sân đình. Động tác múa nặng và chậm, chân dậm mạnh trên đất, đầu gối hơi khuỳnh, dáng múa mô phỏng các động tác dâng cày, trình cày và động tác cày bừa. Người đứng xung quanh đeo mặt nạ (làm bằng mo cau) giả làm trâu, bò. Một người khác cũng đeo mặt nạ, cầm bó mạ, luợm lúa hoặc cuốc, liềm. Tương tự như trò múa chạy cày ở Đan Trì, tại thôn Nghĩa Lập xã Nghĩa Hưng, Vĩnh Tường cũng có trò múa trình nghề vào buổi tối dưới ánh đuốc.
Đặc sắc nhất ở Tam Dương và có lẽ cũng là đặc sắc nhất ở Vĩnh Phúc là trò trình nghề và trò Đúc Tượng (còn gọi là Đúc Bụt) ở xã Phù Liễn (Phù Liễn trước kia là một trong 4 làng thuộc tổng Tĩnh Luyện huyện Tam Dương). Đây là trò trình nghề nông và rước mạ được thực hiện trong ngày lễ xuống đồng.

Ở Phù Liễn, trong ngày lễ xuống đồng, dân làng chọn một số tráng đinh “sạch bụi” (chưa vợ, không có đại tang), cởi trần đóng khố, sau khi chát bùn khắp người, được dân làng đón về ngồi ở giữa đình. Người ta choàng lên mỗi người một manh chiếu, đặt lên đầu mỗi người một bó mạ. Các động tác này, các cụ gọi là Đúc Tượng (hay Đúc Bụt). Trong lúc ấy các vai sĩ - nông - công thương đeo mặt nạ, cầm các dụng cụ nghề nghiệp của mình vừa biểu diễn vừa pha trò xung quanh. Dân làng vây kín vòng trong vòng ngoài bàn tán hò reo.
Đây chính là hình thức cầu phúc thần Nghề Nông, biểu lộ lòng khát khao vụ mùa tươi tốt của cả làng, không kể giới nào, nghề nào, tuổi nào. Vị phúc thần nghề nông ở đây chính là Cây Mẹ Lúa khổng lồ được tạo nên bởi bó mạ thực cùng với sức mạnh của sinh lực và ý chí con người. Biểu tượng về các vị phúc thần như ta thấy trong trò Trình nghề Đúc Tượng ở Phù Liễn đã trở nên cụ thể, gần gũi với hiện thực cuộc sống, vừa có ý nghĩa sâu sắc vừa có sức hấp dẫn.

Trò trình nghề ở Văn Lôi (Mê Linh)
Làng Văn Lôi xưa thuộc tổng Hạ Lôi huyện Yên Lãng, nay thuộc xã Tam Đồng huyện Mê Linh. Đình Văn Lôi thờ Lũ Luỹ đại vương (tướng của Hai Bà Trưng). Trong tiệc làng ngày mồng 5 tháng Giêng cũng có trò trình nghề với các vai người đi cày, ba thợ cấy (nữ), một người cuốc góc đeo giỏ, trong giỏ để vỏ ốc nhồi. Một ông đồ mang bát to làm bằng gỗ xoan, một người bán sách chữ nho, gian bút mực (nghiên mực là hòn lóc chẹn bếp). Vai Thiên Lôi đeo cờ đuôi nheo.
Mọi người trước khi diễn trò đều phải vào đình lễ thánh.
Trò bắt đầu, tất cả các vai đều diễn động tác mô phỏng sự lao động của nghề mình làm. Vừa diễn vừa bông đùa nói khôi hài để gây cười cho công chúng đám hội. ông Thiên Lôi chạy quanh đình làng ba vòng, rồi cầm gáo múc nước ở một cái chum vừa hò hét vừa giội nước vào đầu các vai diễn.

Diễn trò xong có 4 người rước bông lúa thần ra cửa đình làm lễ. Lúa thần là những bông lúa buộc vào đoạn cây cắm trên khúc chuối đặt trên cái chõng tre làm kiệu khiêng. Chủ tế khấn thần linh phù hộ cho dân làng “Thóc lúa đẻ ra, của nhà làm ra, của đồng làm nên”, Sau đó, lúa thần được chia cho đàn anh và các trưởng họ đem về cắm vào bình hương trên ban thờ.
ở Vĩnh Phúc, còn có trò trình nghề - cầu mùa được tổ chức dưới dạng thi các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi. Ta có thể kể đến Tục Thi dưa hấu (trình nghề trồng dưa) và Thi lợn ông Đồ (trình nghề chăn nuôi) ở Thổ Tang, Vĩnh Tường.

Thi dưa hấu
Thi dưa hấu là một cổ tục có từ lâu đời ở làng Thổ Tang. Theo dã sử vùng này, vào khoảng thế kỷ 13 có một vị tướng đánh quân Nguyên - Mông bị thương rút chạy về làng Thổ Tang. Ngài được dân làng dâng dưa hấu dùng để giải khát. Dùng dưa hấu xong ngài hoá và được tôn lên làm thành hoàng làng, gọi là Ngài Lân Hổ Hầu. Các triều đại phong kiến xưa sắc phong Ngài là Thượng đẳng thần Lân Hổ Đô Thống Đại Vương, thờ tại đình làng. Từ đó, hội thi dưa hấu còn có thêm một ý nghĩa quan trọng: chọn dưa quý để cúng thần.
Mùa dưa hấu ở miền Bắc xuất hiện vào cuối tháng tư âm lịch. Riêng ở Thổ Tang, dưa trồng vào khoảng tháng 11 âm lịch và thu hái vào hạ tuần tháng ba. Theo tục lệ làng Thổ Tang xưa, vào khoảng thượng tuần tháng ba âm lịch hàng năm, hội đồng kỳ mục họp với một số bô lão có kinh nghiệm trồng trọt để quyết định ngày hái dưa, được gọi là ngày xuống đồng.

Vào đúng ngày xuống đồng, từ sáng sớm trống, mõ, tù và đã báo hiệu khắp làng. Các chủ ruộng dưa cùng người nhà ra đồng hái dưa. Và từ hôm đó, mùa hái dưa mới bắt đầu. Trước ngày xuống đồng, gia đình hoặc cá nhân nào tự hái dưa sẽ bị phạt vạ rất nặng. Nếu là chủ ruộng, làng phạt tiền, nếu là kẻ trộm dưa, làng sẽ phạt quì trước sân đình một ngày để mọi người qua lại trông thấy. Một số trẻ mục đồng láu cá, tìm những quả dưa to, đào hố cho tụt xuống rồi lấp đất đi. Sau Ngày xuống đồng, trong khi ở đình đang tế dưa, thì ở đồng chúng cũng moi dưa lên chia nhau thưởng thức.

ấn định ngày xuống đồng là lệ làng, dân làng đã tuân theo lệ này từ đời nọ qua đời kia. Dưa hái xong, các chủ điền đích thân chọn những quả dưa già, lớn, nặng đem ra trình làng. Ban chấm thi dưa gồm Hội đồng kỳ mục và một số bô lão sẽ xét dưa theo các tiêu chuẩn: giống dưa tốt, đẹp mã, già, đầy đặn, bổ ra đỏ tươi hoặc vàng, lại nhiều cát.
Cuộc chấm thi dưa chia làm hai đợt:
Đợt thứ nhất chọn những quả dưa già, đẹp, đầy đặn.

Đợt thứ hai đưa dưa lên cân xem quả nào nặng nhất rồi mới xếp hạng. Chỉ xếp hạng nhất và hạng nhì.
Dưa hạng nhất được rửa sạch cúng thần ở đình làng và tên chủ dưa được ban truyền cho dân làng rõ. Người dân Thổ Tang tin rằng, chủ ruộng nào có dưa được chọn cúng Đức Lân Hổ Hầu, ngoài điểm đây là một vinh dự, cả năm đó còn làm ăn sẽ thịnh đạt.
Thi dưa hấu là một cổ tục hay, có tác dụng khuyến khích việc trồng dưa. Các chủ ruộng phải biết cách chăm bón và tìm kiếm giống dưa tốt. Chính vì vậy, dưa hấu của làng Thổ Tang có đủ loại, từ loại dưa hấu đỏ ruột như ở miền Nam, đến loại dưa ruột vàng, ngọt, nhiều cát, quả dài có sọc đen giống như ở miền Thanh Nghệ Tĩnh.

Thi ông đô
Các ông Húc Bờ và các ông đô
Ngày 18 tháng Chạp hàng năm, theo lệ làng Thổ Tang, nam công dân đang ở tuổi 50 được tôn là các ông Húc Bờ. Mỗi ông Húc Bờ (cũng gọi tắt là ông Húc) phải trình làng một ông Đô - ông Đô, chính là một con lợn, dùng trong việc tế thần làng. Theo tục lệ làng, các ông Húc Bờ phải nuôi lợn từ đầu năm, lợn phải kén giống tốt và nuôi sao cho thật béo. Lợn ông Đô trình làng càng béo càng được làng khen thưởng. Mấy ngày, trước khi đem ông Đô trình làng tế thần phải giữ cho ông Đô thật sạch sẽ, tinh khiết. Trong những ngày này các ông Húc Bờ thường cho ông Đô ăn đậu phụ và bún để ông Đô béo mập thêm.

Một số người cao tuổi ở Thổ Tang cho biết, sở dĩ gọi là ông Đô vì các ông đến tuổi Húc Bờ mà không có lợn trình làng thì sẽ bị phạt vạ. Lệ phạt vạ ở Thổ Tang rất đặc biệt: người bị phạt vạ phải làm đô vật trong ngày lễ. Chính vì sự bắt buộc làm đô vật mà người ta dùng từ ông Đô để chỉ những con lợn, mà nhờ chúng các ông Húc Bờ không phải sung chân đánh vật (ở Thổ Tang xưa, cùng với cổ tục ông Đô, thi dưa hấu, còn có thi vật và đánh cờ người.)

Thi ông Đô
Đến phiên chợ Giang (một tên khác của làng Thổ Tang) ngày l tháng Chạp, các ông Đô được đưa ra chợ để ăn một mẻ đậu phụ và bún thoả thích, sau đó được đưa về tập trung ở một địa điểm. Tại đây có một hội đồng gồm các kỳ mục và bô lão trong làng chấm thi, lựa chọn kỹ càng. Những ông Đô trúng giải sẽ được dùng để lễ Thành Hoàng Làng là Đức Lân Hổ Hầu. Tiêu chuẩn lựa chọn là: Đẹp, nặng, lớn, chân tốt. Các ông Đô được chọn sẽ đưa lên cân để xem nặng, nhẹ. Các già làng kể rằng hồi đó chưa có giống lợn to như bây giờ, nên ông Đô nặng nhất cũng chỉ được một tạ, hoặc trên tạ chút ít. Đặc biệt, các ông Đô phải là loại lợn đen tuyền, tục làng không chấp nhận lợn lang. Thậm chí ông Đô nào dù chỉ có một chiếc lông trắng cũng bị làng loại.

Mổ thịt ông đô
Nuôi ông Đô đã cẩn thận, vất vả. Khi mổ thịt ông cũng rất cầu kỳ. Thường thường từ ngày17 tháng Chạp, các ông Húc Bờ có kinh tế đã làm rạp, mổ bò mời bà con tới ăn mừng. Nửa đêm 17, rạng ngày 18, ông Đô được đem mổ thịt. Phải kén trai tân mới được chọc tiết mổ thịt ông. ông Đô được phân xẻ làm nhiều miếng cỡ hai, ba mươi phân, xếp trên phên tre, mỗi phên khoảng 5 miếng đặt lên mâm bưng ra đình làng. Ngoài những ông Đô được giải dùng để làm lễ tế Đức Lân Hổ Hầu (một viên tướng xuất thân nông dân, có công đánh giặc Nguyên - Mông được thờ làm Thành Hoàng Làng), thịt các ông Đô khác được dùng để chia biếu người hàng giáp hoặc thân bằng cố hữu.

Tục nuôi và thi ông Đô mới nhìn qua tưởng như tốn kém, phiền hà nhưng thực ra đây là một hình thức cần kiệm, dành dụm của dân làng để có đủ tiền mua lợn giống nuôi để trình làng nhân dịp vào tuổi 40, chuẩn bị bước sang hàng vai vế. Mặt khác, đây cũng là một hình thức thúc đẩy, khuyến khích chăn nuôi. Nhờ có tục này, dân làng Thổ Tang có rất nhiều kinh nghiệm trong việc chọn giống lợn, trong việc nuôi lợn - vốn là một nghề phụ không thể thiếu của người dân sống bằng nghề nông.

Trở lên là những trò cầu mùa - trình nghề xoay quanh cuộc sống nông nghiệp. Những trò ấy với mức độ và sắc thái khác nhau, gần như có ở hầu khắp các làng của Vĩnh Phúc. Điều đó càng khẳng định rằng những cư dân đầu tiên của người Việt cổ khi rời bỏ núi rừng hang động xuống định cư ở khu vực châu thổ sông Hồng đã chọn vùng đất Vĩnh Phúc ngày nay làm nơi sinh tụ đầu tiên và sống chính bằng nghề trồng lúa nước.

Tuy nhiên, ở Vĩnh Phúc, cũng có một số trò cầu mùa - trình nghề nói tới các ngành nghề khác, ngoài nông nghiệp, chủ yếu là các nghề thủ công phục vụ cuộc sống tự cấp tự túc của người nông dân.
ở đây xin giới thiệu một trò tiêu biểu trong ngày Hội tung bông ở làng Bạch Trữ (huyện Mê Linh), cũng là một dạng trò trình nghề - trình nghề dệt, một nghề thủ công truyền thống của làng.

Hội tung bông
Làng Bạch Trữ trước kia thuộc Tổng Bạch Trữ huyện Yên Lãng nay thuộc xã Tiến Thắng huyện Mê Linh. Làng vốn có nghề dệt cổ truyền. Ngày 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm làng vào hội. Sau lễ rước thành hoàng người ta tổ chức tung “bông” tại đình làng. Giữa sân đình kê một bục cao, ông già chủ tế (do các giáp rút thăm chọn ra), đứng trên bục bắt đầu tung “bông”. Dân làng chen chúc ở sân và ao đình ngóng đợi. “Bông” được làm bằng một đốt tre non tước rất khéo. Những mảnh xơ tre non màu trắng muốt, mềm mại mỏng manh được buộc thành một túm giống như một cuộn bông . Sau tiếng trống và tiếng chiêng, người chủ tế tung “bông” lên cao, khi “bông” chưa chạm đất, dân làng đã xô nhau vào cướp. Người ta chen nhau, hò reo ầm ĩ, trống thúc liên hồi. Có những năm, người chủ tế tung xuống ao đình, dân làng lội ào xuống ao giành “bông”, song rốt cuộc không ai giành được túm “bông” nguyên vẹn. Người nhiều thì được vài sợi, người ít thì được vài đoạn - Ai cũng vui vẻ hỉ hả và nghĩ rằng công việc làm ăn cả năm sẽ được Thành Hoàng che chở giúp đỡ.

Thành Hoàng của làng là Mị Nương (con vua Hùng thứ 18, vợ của Tản Viên Sơn Thánh). Theo ngọc phả ở đây, nàng là người có công dựng làng và truyền cho dân làng nghề dệt - Hội tung “bông” được tổ chức để ghi nhớ lại sự việc này. Đây là một thứ nghi lễ của cư dân làm nông - dệt vải - đồng thời là một thứ trò cầu mùa - trình nghề, trong đó nàng Mị Nương được coi là vị Tổ nghề.

Trò diễn cầu đinh
Cầu mùa - Trình nghề mong được mùa màng tươi tốt để có đủ lương thực thực phẩm nuôi sống cộng đồng; Cầu đinh mong được sinh con đẻ cái, duy trì, phát triển dân số cộng đồng. Đó là hai nguyện ước chính của ông cha ta từ thời nước Văn Lang, luôn mong mỏi được “Tốt con người, tươi con của”
Hai trò diễn này thường hay bị lẫn với “Nghi lễ về sản xuất và đời sống” và “Nghi lễ về vòng đời người”.

Ở chương này chỉ nói tới những trò Cầu mùa - Trình nghề, những trò cầu đinh mang tính nghệ thuật sân khấu, nghĩa là những trò có đóng có diễn, có phục trang, hoá trang... thuộc phạm vi Trò diễn hội làng.

Tục bắt chạch trong chum ở Văn Trưng
Làng Văn Trưng xưa thuộc Tổng Kiên Cương, huyện Vĩnh Tường; nay thuộc xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường.
Hàng năm, Văn Trưng mở hội vào ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Hội có rất nhiều trò vui: đua thuyền, thổi cơm thi, leo cầu phao, hát ví, hái đúm. Nhưng vui và hấp dẫn nhất là trò “Bắt chạch trong chum”. Trước cửa đình có bày một hàng chum, thường là 5 chiếc, mỗi chum đựng đến hai phần ba nước và thả vào một con chạch. Muốn dự thi phải có hai người một nam, một nữ để cùng hỗ trợ cho nhau trong cuộc bắt chạch. Hai người nam - nữ ấy có thể là đôi vợ chồng hiếm muộn con, tham gia bắt chạch để cầu đinh, cầu con, có thể là đôi nam nữ đang có tình ý với nhau, và cũng có thể là một cô gái mà chàng trai mới “tán” được trong lễ hội.

Trong lúc bắt chạch, không phải chỉ có việc khoắng tay vào trong chum mà bắt chạch, đôi nam nữ này phải tuân theo lệ làng thực hiện đúng hèm của thần linh. Nghĩa là đôi trai gái phải vừa ôm nhau vừa bắt chạch, gái tay phải ôm ngang lưng trai còn tay trái khoắng vào trong chum nước; trai tay phải khoắng trong chum nước, còn tay trái ôm qua người con gái, đưa bàn tay nắm lấy “nhũ hoa” của cô gái. Hai người vừa ôm nhau vừa bóp “nhũ hoa” của nhau vừa bắt chạch, bắt cho đến được con chạch thì thôi.
Cuộc thi có giải thưởng là khăn lụa hồng, trà mạn, trầu cau và có khi có cả tiền.

Ban giám khảo gồm các bô lão và quan viên trong làng, ngồi trên thềm đình để ngắm những cặp trai gái bắt chạch. Các cụ còn bắt bẻ họ nếu thấy họ mải bắt chạch mà bỏ lơi tay ôm nhau: Cặp trai gái nào bắt được con chạch trước tiên là được giải . Người ta tin tằng nếu bắt được chạch thì những đôi vợ chồng hiếm muộn sẽ có con, những đôi trai gái đang yêu nhau sẽ nên vợ nên chồng, sống đến “bách niên giai lão”, có con đàn cháu lũ.

Cuộc thi hấp dẫn này, người dự thi tự lấy làm thích, khán giả thì lấy làm thú. Và người ta vây quanh những chiếc chum để xem bắt chạch với những tiếng cười khúc khích và tiếng thúc giục đôi trai gái ôm nhau cho chặt. Bắt Chạch với nhau, dù được giải hay không, những đôi trai gái đã gần gũi nhau, và chàng trai đã được phép làm cái việc mà bình thường họ không dám làm một cách công khai và cũng chẳng có cô gái nào để cho họ làm như vậy trước mặt nhiều người khác mà không e thẹn và không có phản ứng gì.
Chắc hẳn vì cái tục hấp dẫn này, nên ở vùng Vĩnh Tường mới có câu ca:
Bỏ con bỏ cháu chẳng ai bỏ mồng sáu chợ Dưng

Cầu tế nõ nường ở Đức Bác
Xã Đức Bác, xưa gọi là Kẻ Lép, tên chữ là Đức Lạp (hoặc Đức Liệp), huyện Lập Thạch - một xã thuộc vùng chiêm trũng, nằm trên bờ tả ngạn sông Lô.
ở Đình Mẫu xã Đức Bác mở tiệc cầu xuân vào ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch. Hôm ấy có lệ ban ngày thì bơi chải sang Phượng Lâu cướp gạo thóc, chiều tối cử hành lễ cầu đinh tiếp theo là hát xoan cho tới sáng. Lễ cầu đinh tiến hành trong đêm mồng 1 tháng 2 còn gọi là tục Cầu tế Nõ Nường. Đây chính là lễ cầu đinh được cử hành như một lễ mật tại Đình Mẫu. Một trai một gái chưa lập gia đình đứng hai bên hương án. Chủ tế đứng giữa điều khiển nghi lễ cầu tế nõ nường.
Trai cầm chày bằng gỗ vông (còn gọi là nõ).
Gái cầm chiếc mo cau có lỗ thủng ở giữa (còn gọi là nường).
Chủ tế trình thánh xong, anh con trai hỏi:

- Cáo nạo thế sừ
Cái sự thế nào?
Cô gái đáp:
- Cái nạo thế sừ
Cái sự thế này?

Hai người vừa nói vừa đưa hai vật chọi vào nhau ba lần. Nếu cả ba lần chày vông đều chọi đúng lỗ ở mo cau thì năm đó làng sẽ sinh nhiều con trai và làm ăn thịnh vượng.

Tục leo cầu - bắt chạch ở làng Thạc Trục
Làng Thạc Trục xưa thuộc tổng Tử Du huyện Lập Thạch; nay thuộc xã Xuân Hoà - huyên Lập Thạch.
Hàng năm, vào hai ngày 9 và 10 tháng Giêng, tục leo cầu bắt chạch diễn ra tại Đình Trung. Ngày 8 tháng Giêng bắt đầu đào hố, dựng cầu ở sân đình thẳng với gian giữa đình. Cầu được làm bằng gỗ theo hình cong dài 5 mét, rộng 20 phân, chân cầu hai bên cách mặt đất 40 phân, giữa cầu cách mặt đất 1 mét.

Những người muốn “Leo cầu - Bắt chạch” phải đăng ký trước với cụ mệnh từ tháng một, tháng chạp năm cũ. Mục đích của “Leo cầu - Bắt chạch” là cầu đinh cho dân trong làng. Con trai chủ yếu giành riêng cho dân sở tại. Con gái hiếm hoi về đường con cái thì bất cứ ở đâu không phân biệt giàu nghèo đến để cầu con đều được tham gia. Thời phong kiến, các cô gái mặc áo tứ thân màu nâu non, thắt lưng tím hoa sim, bao xanh lá mạ, đầu vấn khăn điều, tóc bỏ đuôi gà. Các chàng trai mặc áo cánh trắng, thắt lưng màu xanh, đầu búi tó chít khăn thủ rìu.

Khi các cụ tế lễ Thành Hoàng xong thì các cặp “Cầu đinh” - “Leo cầu” Bắt chạch” vào làm lễ trước Thành Hoàng, kể cả những người giúp việc gọi là ông chầu, chàng chầu, nàng chầu cũng vào làm lễ. Làm lễ xong quay ra sân trước cửa gian giữa đình chuẩn bị leo cầu, bước này gọi là Giang cầu. Nam, nữ đứng sẵn ở đầu cầu, mỗi người leo đều có hai người chầu dìu đi hai bên để cho người leo cầu vịn vào vai người đứng chầu đỡ cho khỏi ngã. Trước khi leo cầu phần khởi động có trống thúc, cờ phất, đôi bên bắt đầu hát ví
Nữ: Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
Nam: Qua cầu ghé nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu.
Nữ: Đôi ta như cá thờn bơn
Nằm trên bãi cát đợi cơn mưa rào.
Nam: Đôi ta như cá dưới ao
Những nơm cùng vó biết vào tay ai
Sau hiệu lệnh trống khẩu hai bên cùng hát:
Đôi ta như rắn liu điu
Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau.
Hát xong câu này, hai bên cùng leo lên cầu. Các chàng chầu, nàng chầu cố giữ cho hai người khỏi ngã. Những người làm “chầu” đã được tuyển lựa kỹ, có đủ tư cách như con cái đề huề có nếp, có tẻ (con trai, con gái) để giúp vào cầu đinh - cầu phúc cho đôi nam nữ. Hai người leo đến giữa cầu thì ôm nhau đổi chỗ. Anh con trai tranh thủ vờn ngực cô gái, còn cô gái cứ đỏ mặt mà tiếp tục đi. Lúc này những người phù trợ phải thật chú ý để họ không bị ngã. Người xem vây quanh chặt như nêm, ai cũng cầu mong đôi trai gái thành công. Leo cầu xong, hai người tiếp tục vào đình làm lễ. Lễ xong, hai người cùng ra gian giữa đình. ở đây đã trải sẵn chiếu hoa, đặt sẵn một cái chum cổ trong đựng đầy nước và thả một con chạch to bằng hai ngón tay. Chủ tế phát lệnh bằng trống khẩu, cờ đuôi nheo phát hai bên. Hai anh chị quỳ xuống chiếu, mỗi người một tay thò vào chum, tay còn lại quàng vào nách: cứ thế ôm chặt nhau cùng bắt chạch, có khi gác cả đùi lên nhau. ở trong chum, tay người con trai khua khua khoắng khoắng, nắm lấy tay người con gái, không cho người con gái bắt được con chạch. Người con gái cố nắm lấy con chạch, tay ở ngoài cứ ôm xiết lấy mình nhau. Người xem cười rũ rợi.
Cuộc bắt chạch có khi kéo dài hàng 3 - 4 tiếng đồng hồ.
Không khí tín ngưỡng phồn thực thể hiện rõ trên nét mặt người xem. Ai cũng hân hoan cầu chúc cho anh chị đạt được con đàn, cháu đống, duy trì nòi giống, con Rồng cháu Tiên.
Nhìn chung, tục “Bắt chạch” có ở nhiều làng xã vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ, mỗi nơi có những tiểu tiết và chuyển hoá khác nhau, nhưng đích cơ bản vẫn là cầu đinh - cầu duyên, trong khi tham gia trò thì gây cười và gợi nhiều thích thú ở người xem. Riêng trò “Bắt chạch trong chum” ở làng Bạch Trữ (Mê Linh) có nét khác, ngoài việc cầu đinh - cầu duyên còn mang ý nghĩa tưởng niệm.

Bắt chạch trong chum ở Bạch Trữ
ở Bạch Trữ (Mê Linh) trò này được tổ chức đúng vào ngày dân làng tưởng niệm hai nhân vật là Nguyễn Thế Địch và Hoàng Thị Trưởng, cặp trai gái của làng mới ước hẹn chuyện trăm năm, chưa cưới, đã anh dũng chiến đấu chống giặc Tống. ở phòng tuyến sông Cầu năm 1076 và hy sinh dũng cảm. Có lẽ trước lúc đi đánh giặc, đôi trai gái đó đã yêu nhau qua ngày hội “Bắt chạch trong chum”. Đến ngày hội, người ta chỉ dùng một chiếc chum, đổ nước đến nửa chum và thả chạch vào. Người xin vào bắt chạch lần lượt ghi tên theo thứ tự. Có thể chỉ là một người đàn ông xin bắt chạch. Nhưng thường là cả đôi nam nữ cùng vào ghi tên. Nhiều khi chạch chưa bắt được thì lại bắt “nhầm” phải tay nhau. Đôi trai gái và dân làng cùng cười vui vẻ, dí dỏm, tinh nghịch, hả hê.
Trò “Bắt chạch trong chum” ở Bạch Trữ thể hiện sự nhanh nhẹn, thông minh, tài trí của người lao động nông nghiệp. Trò này vừa có ý nghĩa tưởng niệm, vừa là dịp giao duyên. Các cụ ở làng Bạch kể lại có rất nhiều đôi trai gái trở thành vợ chồng qua ngày hội bắt chạch trong chum này, họ sống rất hạnh phúc, con cháu sum vầy, vui vẻ.
Như trên đã trình bày, trò cầu mùa - trình nghề đi liền với trò cầu đinh vừa phản ánh tín ngưỡng phồn thực vừa cho thấy nguyện vọng cơ bản của ông cha ta xưa là mong mỏi được “Tốt con người, tươi con của” để củng cố, duy trì và phát triển cộng đồng. Các trò này rất phong phú đa dạng, thể hiện hiện thực đời sống một cách sinh động. Gọi là “Trò” vì có rước, có diễn, có hoá trang, phục trang có hát, có nói, có hành động (dạng kịch câm sau này).
Các trò Trình nghề - cầu mùa - cầu đinh ở Vĩnh Phúc đã góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng nền sân khấu dân gian truyền thống sau này với nòng cốt là “chèo sân đình” đã từng được phát triển một thời gian dài nơi thôn dã và ngày càng hoàn thiện.

Trò diễn về thần tích về truyền thuyết dân gian
Bên các trò múa, trò trình nghề - cầu mùa - cầu đinh, còn có một bộ phận những trò diễn khác theo tục lệ cũng mang tính nghệ thuật sân khấu. Đó là các trò diễn về thần tích và về truyền thuyết dân gian. Trò này ở Vĩnh Phúc không nhiều. Chúng tôi xin giới thiệu trò diễn về Hai Bà Trưng trong ngày Hội Đền Hạ Lôi.
Làng Hạ Lôi xưa thuộc tổng Hạ Lôi huyện Yên Lãng; nay là xã Mê Linh, huyện Mê Linh. Đây là quê hương và cũng là nơi Hai Bà dựng đô xưng vương. Dân làng lập đền thờ Hai Bà và hàng năm mở hội vào ngày 15 tháng Giêng nhân dịp lễ thượng Nguyên.
Trong ngày hội có nhiều trò vui cổ truyền như đánh cờ, đánh đu, đáo đĩa v.v... nhưng quan trọng hơn cả là đám rước tập trận.
Để cử hành đám rước này dân làng phải kén 150 thanh niên và 150 thiếu nữ để đóng làm quân Hai Bà Trưng. Nam mặc áo dài đen, quần trắng, thắt lưng đỏ ra ngoài áo, buộc múi sang bên cạnh sườn, nữ thì mặc váy màu đen, áo dài tứ thân màu nâu, hai vạt thắt ra đằng sau. Những thanh niên nam nữ này phải luyện tập trước.
Đám rước bắt đầu từ đình, đi vòng dưới chân đê sông Hồng, nghỉ ở bờ sông, rước kiệu xuống sông lấy nước rồi lại quay về đình. Đám rước không đi vòng lên đê, vì bờ đê cao hơn mặt đình, quân sĩ leo lên bờ đê sẽ mất vẻ tôn kính đối với Hai Bà, vì Hai Bà không chỉ được thờ ở Đền Hạ Lôi mà còn thờ cả ở đình làng.
Trong lúc đi rước, đám quân nam nữ làm động tác múa võ, hò reo và hát lên những bài hát chiến trận - Bài hát sau đây được nhiều nhà nghiên cứu cho là có từ thời Hai Bà Trưng do Hai Bà đặt ra để quân lính hát khi dồn trú trên núi. 

Ta lên núi
Ta lên núi
Đuổi đàn hươu
Đuổi đàn hươu
Chị em năm ba mặt cũng rầu rầu
Ta lên núi
Ta lên núi
Đuổi đàn nai
Đuổi đàn nai
Nỗi niềm tâm sự than thở cùng ai
Đoái trông phương Đông: nước rộng mênh mông
Đoái trông phương Tây: đá trắng gồ ghề
Đoái trông phương Nam: mây che đầu ngàn
Đoái trông phương Bắc: núi cao ngất.

Trong bài ca trên Hai Bà dụng ý cổ võ nhân dân và khuyến khích quân lính cùng lo việc đuổi quân Đông Hán.
Đoàn rước về đến sân đền Hạ Lôi, múa võ và kết thúc. Dân làng đi xem, không phân biệt ai là con cháu, cứ cố mời đón các chiến binh về nhà mình dự tiệc giống như ngày xưa đón quân Hai Bà chiến thắng trở về.

Sân khấu dân gian: Chèo và tuồng
Trên cơ sở nền tảng của các hình thức trò diễn xướng dân gian từ xa xưa (chủ yếu là qua các trò trình nghề - cầu mùa - cầu đinh) sân khấu dân gian Chèo và Tuồng đã được ra đời, trở thành kịch chủng và tồn tại cho đến ngày nay. Cũng giống như sân khấu dân gian của miền Bắc nói chung sân khấu dân gian ở Vĩnh Phúc chủ yếu cũng là Chèo và Tuồng.
Chèo dân gian truyền thống là chèo sân đình, bởi nó được biểu diễn chủ yếu trong các dịp hội làng ở sân đình. Sân khấu chèo cổ là sân đình rộng lớn mà phường chèo biểu diễn ở trước tiền đình, khán giả vây kín xung quanh không chừa một góc, một hướng nào và hầu như không có cả hậu trường cho gánh hát nữa.

Chèo là loại hình sân khấu dân gian rất được quần chúng nông thôn yêu thích. Ngoài việc biểu diễn ở hội hè đình đám, các gánh chèo còn được mời hát ở các đám cưới, đám khao.
Phường chèo là một tổ chức nghệ thuật không chuyên nghiệp mà nghệ nhân không coi hát chèo biểu diễn là nguồn sống, nguồn kinh tế chủ yếu. Diễn viên chèo vẫn là nông dân và chỉ đi hát có mùa, có dịp. Họ sống bằng lao động sản xuất nông nghiệp. Một số thợ mộc, người buôn bán vẫn có thể vào phường. ở Vĩnh Phúc cũng có thời kỳ ở một số địa phương có phường chèo chuyên nghiệp, nhưng tồn tại không được lâu, như các phường Bồ Điền, Bàn Mạch, Tuân Chính (Vĩnh Tường), Cao Phong (Lập Thạch).. Các phường chèo ở Vĩnh Phúc đều thờ Tổ sư là “Đông Phương Sóc”. Mỗi phường có một tượng nhỏ “Đông Phương Sóc” bằng gỗ để mộc, không tô vẽ, đặt trong một hộp gỗ, do trùm phường giữ rất cẩn thận.

Theo nghệ sĩ Văn Thân, nguyên Trưởng đoàn chèo Vĩnh Phúc (đã nghỉ hưu tại Thổ Tang, Vĩnh Tường) cho biết, thì chèo dân gian Vĩnh Phúc trước đây không có đào mà chỉ có kép - đó là một biểu hiện của ý thức hệ phong kiến trong nghệ thuật dân gian. Các vai đào như Vân Dại, Thị Mầu, Thị Kính, Vợ Trương Viên v.v... đều do nam đóng. Điều này thực sự đã hạn chế giá trị thẩm mỹ của đêm diễn, của tích trò. Những người đóng các vai nữ được gọi là “kép gái”, phần nhiều là thanh niên đẹp trai, có giọng thanh và dáng người mềm mại.
Phường chèo gồm một số người cùng thôn hay cùng một làng xã. Phần nhiều có họ hàng với nhau. Vào mùa diễn, các phường lên đường rất đơn giản, nhẹ nhàng: toàn bộ y phục, trang trí, đạo cụ để gọn vào một đôi hòm do một người gánh. Hát chèo cổ không có phông màn.
Tạm dẫn một số phường chèo ở Vĩnh Phúc đã có trước đây:

Vĩnh Tường có các phường Bồ Điền, Bàn Mạch, Tuân Chính, Thổ Tang.
Yên Lạc có phường của các xã Vĩnh Mỗ, Yên Đồng và phường Đông Lỗ xã Trung Nguyên.
Tam Dương có phường Hoàng Đan.
Bình Xuyên có các phường Đạo Đức, Phú Xuân, Tân Phong, Quất Lưu Tam Hợp, Bá Hiến.
Lập Thạch có phường Đình Chu xã Đại Thắng, phường xóm Thọ xã Đức Bác, phường Tử Du, phường Bản Lập xã Tử Du, các xã Nhân Đạo, Cao Phong, Đồng Xuân, Bắc Bình, Phương Khoan, Đôn Nhân, mỗi xã có một phường.
Vĩnh Yên có phường Tích Sơn.

Chèo Vĩnh Phúc không có vở nào riêng biệt, cũng diễn các tích trò như nhiều địa phương khác như: Kiều, Quan âm Thị Kính, Trương Viên, Kim Nham, Lưu Bình Dương Lễ v.v... Nhiều kép đóng vai nữ rất đạt, được yêu mến và nổi tiếng như Nguyễn Văn Chiểu phường Nhân Đạo; Kép Bôi, Kép Tân phường Vân Giang.. Nhiều kép rất có tiếng tăm làm vinh dự cho nghệ thuật chèo Vinh Phúc như Đoàn Oanh phường Hoàng Đan; Hậu phường Thổ Tang, Nắm Ngu, Ba Đoá phường Cao Phong. Các vai hề chèo bao giờ cũng được khán giả sân đình yêu mến và làm cho đêm chèo thêm đậm đà, hào hứng.

Người ta nói Vĩnh Phúc là đất chèo nổi tiếng, quả không ngoa. Đường lối văn hoá của Đảng được xác định tại Nghị quyết Trung ương 5 (khoá 8) đã mở lối cho các nhà lãnh đạo văn hoá, cho các nghệ nhân một đời sống chết với nghệ thuật chèo truyền thống cùng chung vai “Xây dựng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Mọi hy vọng hiện nay tạm thời gửi vào chiếu chèo hai xã Định Trung và Khai Quang (thành phố Vĩnh Yên); gửi vào tên tuổi các nghệ nhân như Nguyên Văn Mỹ (Khai Quang), Nguyễn Văn Vinh (Định Trung), Dương Thị Ngọ (Tích Sơn)... rồi ông Hoàng Đình Viên, bà Kim Thăng, bà Bích Tần (Khai Quang).
Dư âm của các làn điệu chèo của đội chèo Khai Quang được tái sinh tuy mới chỉ là những dòng chảy “li ti” nhưng cái “Long mạch” của làng chèo đã có cơ tuôn chảy. Mong rằng từ Khai Quang - Vĩnh Yên, chúng ta sẽ còn được “Chứng sinh” những di sản văn hoá mà bấy lâu nay bị mai một.

Cùng với sân khấu chèo dân gian là sân khấu tuồng. Tuồng ở Vĩnh Phúc không đậm, không nổi như sân khấu chèo, nhưng cũng có những phường, những kép được gần xa quý chuộng. Huyện Vĩnh Tường có phường Tuồng của hai anh em ông Phấn ông Sáp - Lập Thạch, có phường Tuồng Tiên Lữ, phường Tuồng Đạo Nội - Yên Lạc có phường Tuồng Tam Hồng.
Một nét độc đáo của các phường Tuồng Vĩnh Phúc là kép tuồng đồng thời cũng là kép chèo, những người hát tuồng cũng biết cả hát chèo và có thể diễn được đôi ba tích chèo theo yêu cầu của địa phương.
Hiện nay ở các đội văn nghệ cơ sở vẫn thấy có bóng dáng chèo, nhưng tuồng thì không. Đó là khó khăn chung của ngành Tuồng cả nước. Chúng ta không thể đòi hỏi gì hơn, mà chỉ chờ đợi và hy vọng. Biết đâu mai kia, trong đêm văn nghệ làng lại xuất hiện những lớp tuồng cải biên ?

Học giả Phan Kế Bính trong loạt bài “Việt Nam phong tục”, in trên “Đông Dương tạp chí” vào hai năm 1913 - 1914 có trình bày làng vào đám còn gọi là Trà nhập tịch. Và ông giảng nghĩa Trà nhập tịch như sau:
“Lễ nhập tịch này cũng đồng một ý nghĩa với cách ăn tết đầu năm, nghĩa là dân mình khó nhọc vất vả quanh năm thì phải có dịp ăn uống vui chơi giải trí”.

Bởi thế, trong hội làng có nhiều trò vui, trước đây các nhà nghiên cứu gọi là trò bách trí, ngày nay ta gọi là trò diễn hội làng. Trò diễn hội làng là dịp để dân chúng mua vui. Tuy nhiên ta không thể bỏ qua mục đích tín ngưỡng cổ truyền - Làng vào đám là để dân làng tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với Đức Thành Hoàng, thần linh coi sóc che chở cho dân làng. Giáo sư Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hoá sử cương” (NXB Bốn Phương Sài Gòn, 1961, trang 207) có viết: “Thành Hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục đạo đức pháp lệ cùng hy vọng chung cửa cả làng, lại cũng là một thứ uy quyền siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có một tổ chức và hệ thống chặt chẽ”.

Như thế, Hội làng còn giúp mọi người gắn bó đoàn kết để cùng đi tới củng cố, xây dựng và phát triển cộng đồng.
Các trò diễn trong đình đám hội làng Vĩnh Phúc không thể tách ra thành mảnh riêng rẽ với trò diễn hội làng người Việt nói chung, nhưng ít nhiều những trò diễn trên mảnh đất này cũng có những nét độc đáo của một vùng đất cổ tạo nên bản sắc địa phương khá rõ nét.
Trước hết, nhiều trò diễn ở Vĩnh Phúc trong các kỳ hội làng được gắn với sự tích Hùng Vương - Tản Viên dựng nước và giữ nước. Tiếp đó là gắn với những trang sử vẻ vang chống xâm lược phương Bắc, kể từ Hai Bà Trưng chống Hán đến cuộc kháng chiến oanh liệt chống Tống, chống Nguyên Mông sau này. Trò diễn hội làng ở Vĩnh Phúc thực sự là những trang sử đẹp đẽ của dân tộc bắt đầu lừ thời kỳ dựng nước biểu hiện sâu sắc truyền thống bất khuất quật cường, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ta trải 4.000 năm lịch sử.
Truyền thống đẹp đẽ đó đã trở thành bản lĩnh của người dân Vĩnh Phúc.

Điều đáng chú ý thứ hai là các trò diễn hội làng ở Vĩnh Phúc đã cho thấy nhiều mặt sinh hoạt nguyên thuỷ cổ sơ của nhân dân Văn Lang thời xa xưa.
Các trò diễn mang tính nghệ thuật sân khấu (vai diễn, hoá trang, phục trang, đạo cụ, động tác múa, hát...) của hội làng đã dẫn đến sự hình thành và phát triển nền sân khấu dân gian truyền thống dân tộc, thu hút nhân dân đến các hội làng. Nhân dân tìm đến Hội làng, tham dự các trò vui để giải trí, để cầu lành, cầu may. Nhân dân còn đến Hội làng để tắm mình trong tình cảm đoàn kết “tính làng nghĩa nước”, để tưởng nhớ và nói gương cha ông rất anh hùng và cũng để góp phần mình vào sáng tạo nghệ thuật, thúc đẩy nghệ thuật dân gian ngày càng phát triển.


Các tin đã đưa:
Tháp Bình Sơn
Tây Thiên Đền Hai Bà Trưng
Tìm hiểu văn hoá
Tin tức - sự kiên
Doanh nghiệp
Công nghiệp Doanh nghiệp trẻ
  Trang chủ   Góp ý - Liên hệ   Sơ đồ website   Thư viện ảnh   Ca khúc  
Trang thông tin điện tử Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Cơ quan chủ quản: Sở văn hóa,Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc
Địa chỉ: Số 2 đường Hai Bà Trưng - phường Đống Đa - TP Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
ĐT:0211.3862.505 * Fax:0211.3847.773 * Email: sovhttdl@vinhphuc.gov.vn * Tổng biên tập: Trần Văn Quang
Giấy phép số: 13/GP-TTĐT ngày: 31/01/2013 của Cục Quản lý Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử