Trong Mẫu Tứ Phủ, thần điện là để ghi nhận thế thứ các vị có trong phả Tứ Phủ. Việc tái hiện các vị thánh cho tiếp xúc với đời thường trước điện thiêng là công việc của các giá đồng. Có 2 thuật ngữ thường dùng cho các kì thực hiện các “lớp diễn” (ngôn ngữ của sân khấu kịch) này:
- Ghế đồng: Là một tổ hợp thực hiện các giá đồng, cho một vị Đồng đứng chủ.
- Giá đồng: là một lớp diễn tái hiện một vị thánh nào đó có trong phả hệ của Mẫu Tứ Phủ (Giá đồng chúa Ba, giá đồng Hoàng Mười, giá đồng cô Sáu Lục Cung).
Giáng đồng - Đó là khi thánh nhập hồn vào thân xác ông đồng, hoặc bà đồng, tựa như tựa vào một vật làm cái “giá” để thực hiện việc giáng đồng. Khi lên đồng mỗi thánh là một giá đồng.
“ảnh” đồng: là khi thánh về nhập vào đồng, nhưng không giáng đồng. Chỉ quay đầu vài vòng, không mở khăn rồi “thăng”. Khi ấy cung văn đàn và hát các chữ “xe loan thánh giá hồi cung” nghĩa là thánh trở về ngàn xa, không giáng đồng, một số sách dùng thuật ngữ là hầu “tráng mạn” (Hầu không mở khăn).
Chúng tôi dùng thuật ngữ “ảnh đồng”. Chữ “ảnh” nghĩa là “bóng”, Bởi vậy mới có từ hầu bóng để chỉ về các giá đồng. Hầu “tráng bóng” để chỉ các giá ảnh đồng và giáng đồng của các cô đồng mới ra “mở phủ”.
Thăng đồng: chữ “thăng” nghĩa là “lên”, để chỉ khi ấy thần thánh đã về trời, đã rời khỏi thân xác ông đồng, bà đồng. Kết thúc một giá đồng (trái với chữ “giáng”).
Thường thì mỗi giá đồng, khi giáng về “giá” nào, thì người ngồi hầu đồng giơ tay làm hiệu. Giơ tay phải là giá về nữ; giơ tay trái là giá về nam (nam tả, nữ hữu). Giơ một ngón tay bên phải, ấy là thánh chúa đệ nhất (chúa Thượng Thiên) hoặc cả ngón tay bên trái là quan Đệ Nhị (Nhạc Phủ). Khi ấy cung văn lựa bài mà đàn hát cho phù hợp với giá đồng, các vị hầu dâng cũng biết để chuẩn bị đồ trang sức, đạo cụ dùng trong giá đồng cùng các thứ quần áo....
Trong hầu đồng, chỉ có tối đa là 36 giá, nhưng thường có thỉnh về đồng các giá theo nhu cầu của khóa lễ.
Mẫu Đệ nhất Thượng Thiên.
Mẫu Đệ nhị Thượng Ngàn.
Mẫu Đệ tam Thoải phủ.
Tiếp đến giá Quan Trần Triều, đức Thánh Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
Sau giá đức Thánh Trần là 2 giá Vương cô Đệ nhất, Vương cô Đệ Nhị. Rồi mới đến giá chúa Đệ nhất Thượng Thiên, giá chúa Đệ nhị Thượng Ngàn, giá chúa Đệ tam (chúa Đệ tứ không giáng đồng) và các giá hàng quan.
Đến đây, có tục lệ về thứ tự hầu đồng:
Một là: Hầu từ giá quan Đệ nhất đến giá quan Đệ tứ, thì tiếp tục về 2 giá hàng Chầu là Chầu nhị, Chầu lục. Rồi trở lại giá Quan Đệ ngũ Tuần Tranh, thì tán đàn, thiêu hoá mã. Hết phần các giá đồng hầu chứng lễ. Kết thúc phần nghi lễ.
Buổi chiều tiếp từ giá đồng hầu vui là: Chầu Mười, Chầu Bé, 5 giá hàng Cô (Cô Đôi, Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín và Cô Bé). Kết thúc hầu đồng bằng giá Cậu Bơ Hoàng - Tạ lễ, khao giải chúng sinh. Kết thúc khoá lễ.
Hai là: Hầu liên tiếp đủ 5 giá hàng Quan. Tán đàn, hoá mã, nhưng để lại 2 động chúa là Chúa nhị và Chúa Thoải cùng các mã khác. Tiếp tục hầu vào 2 giá hàng Chầu là Chầu Nhị, Chầu Lục là các giá hầu chứng lễ. Rồi hoá mã 2 động chúa còn lại.
Cuộc hầu đồng liên tục, vào các giá hàng Chầu như Chầu Mười, Chầu Bé là các giá hầu vui, tiếp đến các giá hàng Cô, giá Cậu rồi kết thúc khoá lễ. Không có nghỉ giữa chừng. Đây là tục lệ cổ, một số ghế đồng còn theo. Trong các giá đồng này, nếu có lễ mã thuộc giá nào, thì tự “chứng lễ” lấy, rồi đêm thiêu hóa ngày, mà không thuộc phạm vi “tán đàn” của quan Đệ Ngũ Tuần Tranh.
Đó cũng là tính cách miền vùng còn tồn tại ở địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, cũng có thể gọi như một tục lệ địa phương về thứ tự các giá trình đồng ở điện Mẫu.